Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) vừa tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn.
Theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến mới cập nhật, lãi suất kỳ hạn 6-11 tháng lĩnh lãi cuối kỳ được nâng lên 6,6%/năm, tăng tới 1,1%/năm so với trước đó. Các kỳ hạn dài từ 12-36 tháng cũng tăng thêm 0,9%/năm, lên mức 6,8%/năm.
Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn ngắn 1-5 tháng vẫn duy trì ở mức trần 4,75%/năm theo quy định đối với tiền gửi dưới 6 tháng.
*Biểu lãi suất tiết kiệm tại ngân hàng (Đơn vị: %/năm)
Ngân hàng
1 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
Agribank
4,75
4,75
7
7
7
BIDV
4,75
4,75
6,6
6,6
6,8
VietinBank
4,75
4,75
6,6
6,6
6,8
Vietcombank
4
4,5
5,5
5,5
5,9
Cụ thể, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-11 tháng được nâng thêm 1%/năm, lên mức 7,05%/năm; kỳ hạn 12 tháng tăng lên 7,25%/năm - trở thành mức lãi suất cao nhất tại ngân hàng này.
Trong khi đó, các kỳ hạn còn lại được giữ nguyên, gồm: kỳ hạn 1-2 tháng ở mức 4,35%/năm; 3-5 tháng 4,65%/năm và 13-36 tháng 6,35%/năm.
VIB cũng vừa tăng lãi suất thêm 0,5%/năm để neo tại mức 7%/năm. Cụ thể, VIB vẫn giữ nguyên lãi suất tiền gửi các kỳ hạn còn lại. Kỳ hạn 1-5 tháng 4,75%/năm, kỳ hạn 6-8 tháng 5,7%/năm, kỳ hạn 9-11 tháng 5,8%/năm, kỳ hạn 15-18 tháng 5,9%/năm, kỳ hạn 24-36 tháng là 6%/năm.
Từ đầu tháng 4, đã có 7 ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, gồm Viet A Bank, Nam A Bank, BaoViet Bank, ACB, VietinBank, Techcombank, VIB.

Nhân viên kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến tại các ngân hàng ngày 7/4 cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các kỳ hạn và nhóm ngân hàng. Ở kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, lãi suất phổ biến dao động quanh mức 4-4,75%/năm, bám sát trần quy định của Ngân hàng Nhà nước, chỉ một số ít ngân hàng niêm yết thấp hơn đáng kể.
Tại kỳ hạn trung bình 6-9 tháng, lãi suất tăng mạnh và hình thành mặt bằng mới, phổ biến trong khoảng 6-7,3%/năm. Nhiều ngân hàng đã đẩy lãi suất vượt mốc 7% như LPBank, MBV, ACB, Bac A Bank hay Techcombank, cho thấy xu hướng cạnh tranh huy động vốn ngày càng rõ rệt.
Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tiếp tục được nâng lên, dao động chủ yếu từ 6,3-7,5%/năm. Một số ngân hàng niêm yết mức cao nhất thị trường lên tới 7,4-7,5%/năm, trong khi nhóm Big 4 vẫn duy trì mức thấp hơn, quanh 5,9-6,8%/năm.
Đối với kỳ hạn dài 18-36 tháng, lãi suất nhìn chung ổn định hơn, phổ biến từ 6,3-7,2%/năm, tuy nhiên vẫn ghi nhận một số ngân hàng duy trì mức trên 7% nhằm thu hút dòng tiền dài hạn.
Chênh lệch giữa các nhóm ngân hàng tiếp tục duy trì, với nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình thường niêm yết lãi suất cao hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng quốc doanh.


























