Lời tòa soạn:
Trong công cuộc giành độc lập, tự do của dân tộc, mỗi chiến công oanh liệt đều được viết nên bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những con người Việt Nam bình dị mà vĩ đại.
Từ chiếc xe đạp thồ huyền thoại đến các sáng chế vũ khí, thiết bị và giải pháp hậu cần đầy sáng tạo, mang đậm tinh thần Việt Nam, tất cả đã góp phần làm nên thế trận nhân dân.
Dân trí trân trọng giới thiệu tới độc giả tuyến bài “Những sáng chế góp nên độc lập”, nhằm tôn vinh tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của người Việt, tỏa sáng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình.
Thủy lôi từ tính và bom từ trường phong tỏa vùng biển miền Bắc

Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam trao đổi với phóng viên Dân trí (Ảnh: Đoàn Thủy).
Theo Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, mùa Xuân năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực đối phương, mở rộng vùng giải phóng và gia tăng sức ép trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.
Chính quyền Tổng thống Richard Nixon đã tăng cường hỗ trợ quân đội Sài Gòn, đồng thời, phát động trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Đáng chú ý, Mỹ tiến hành rải thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng cùng nhiều cửa sông, cửa biển trọng yếu bằng các loại vũ khí công nghệ cao thời bấy giờ như thủy lôi từ tính MK-52 và bom từ trường MK-36.

Bom từ trường MK-36 (viết tắt tiếng Anh của Mark-36) được Hải quân Mỹ phát triển từ tháng 6/1966, đến tháng 6/1967 thì chính thức mang ra sử dụng để phong toả các cửa sông nước ta (Ảnh: Tư liệu).
Những khí tài này được Mỹ ca ngợi là "thông minh" và "không thể rà phá" đã gây ra không ít khó khăn, thử thách cho quân và dân ta.
Sau ngày Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng và vùng biển miền bắc, Đảng và Nhà nước đã huy động các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cách rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường. Đội đặc nhiệm GK1 ra đời trong bối cảnh đó.

Đội đặc nhiệm GK1 nghiên cứu thủy lôi địch để tìm phương pháp rà phá (Ảnh: Tư liệu).
Cuối tháng 5/1972, Tổ nghiên cứu đặc nhiệm GK1 được thành lập tại Đại học Bách khoa Hà Nội, do GS.TSKH Vũ Đình Cự làm tổ trưởng, quy tụ các chuyên gia đầu ngành về vật lý, vô tuyến điện tử và tự động hóa.
Trong thực tế, công tác rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường trên sông, biển và đất liền luôn là một nhiệm vụ đặc biệt phức tạp, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa con người và phương tiện chuyên dụng.
Từ năm 1967, Mỹ bắt đầu triển khai các loại vũ khí có cơ chế kích nổ hiện đại nhằm đánh phá hệ thống giao thông đường thủy, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn kéo dài đối với an toàn hàng hải và đời sống dân sinh.
Nhiệm vụ trọng tâm của GK1 là nghiên cứu cơ chế hoạt động và thiết kế các phương tiện kỹ thuật để vô hiệu hóa thủy lôi, bom từ trường.
Nhận nhiệm vụ, Vũ Đình Cự cùng các đồng nghiệp ở Đại học Bách khoa và Bộ Giao thông Vận tải khẩn trương bắt tay vào công việc trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của thời chiến.

GS.TSKH Vũ Đình Cự (ở giữa) đã cống hiến không mệt mỏi cho đất nước (Ảnh: Tư liệu).
Giải mã cơ chế kích nổ: "Làm câm" vũ khí thông minh
Được sự hỗ trợ đắc lực của các đơn vị thuộc ngành giao thông, đặc biệt là sự hỗ trợ của Trung tâm máy tính điện tử (duy nhất lúc đó ở miền Bắc) của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước và sử dụng cả các thiết bị nghiên cứu mới nhất vừa được Liên Xô (cũ) viện trợ cho Trường Bách khoa.
Trong một thời gian ngắn, tổ GK1 đã "mổ phanh" loại vũ khí "thông minh" được đưa từ Hải Phòng về Hà Nội để tìm ra cơ chế gây nổ tinh vi của nó, đồng thời, tổ chức nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Phòng và sân bóng Đại học Bách khoa.

Các kỹ sư và công nhân Cục Đường biển ở Hải Phòng thu hồi thủy lôi Mỹ, để các nhà khoa học trong tổ nghiên cứu mang mật danh GK1 nghiên cứu (Ảnh: Tư liệu).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chúng sử dụng tổ hợp cảm biến đa kênh và mạch điện tử phức tạp để phân biệt mục tiêu thật - giả, từ đó lựa chọn thời điểm kích nổ tối ưu.
Từ kết quả trên GK1 đã thiết kế và chế tạo nhiều loại khí tài như thiết bị tạo xung từ trường để kích nổ bom mìn từ xa, máy gây nhiễu "làm câm" bom từ trường và ca nô không người lái phục vụ rà phá.

TSKH Vũ Đình Cự (thứ 3 từ trái sang), tổ trưởng tổ GK1, báo cáo với Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh và nhà lãnh đạo Công đoàn Hoàng Quốc Việt, về nguyên lý hoạt động của các thiết bị phá nổ và gây nhiễu quả thủy lôi chiến lược MK-52 và quả thủy lôi chiến thuật MK-42 của Mỹ (Ảnh: Tư liệu).
Thiết bị đó nhanh chóng được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả lớn trong việc rà phá bom, thủy lôi từ trường, tránh được thương vong ở cảng Hải Phòng và nhiều nơi khác, góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân và dân ta trong việc phá tan âm mưu phong tỏa miền Bắc của Mỹ những năm 1972-1973.
Việc đưa thiết bị GK1 vào thực tế đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống phong tỏa đường thủy. Nhiều bãi thủy lôi được xử lý an toàn, không gây tổn thất về người và phương tiện, góp phần bảo đảm huyết mạch giao thông chiến lược.
Năm 1996, công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò to lớn của tổ GK1 trong việc bảo đảm giao thông và góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến..
Do tính chất phục vụ chiến đấu trong thời chiến, việc thành lập tổ nghiên cứu cũng như các khí tài được triển khai đều được giữ bí mật.
Tổ GK đầu tiên làm việc từ tháng 5/1972 gồm 6 người do GS.TSKH Vũ Đình Cự làm Tổ trưởng.
Vũ Đình Cự (15/2/1936-7/9/2011), quê quán xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (cũ). Ông tham gia cách mạng tháng 7/1956; vào Đảng tháng 4/1985; là nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, VIII; nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội khóa X; nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; đại biểu Quốc hội khóa VII, VII, IX, X.
Sang tháng 7/1972 bổ sung thêm 5 người do các thành viên đầu tiên giới thiệu. Sau đó tổ GK2 được thành lập (chủ chốt là Kỹ sư Nguyễn Hữu Bảo, kỹ sư Đoàn Nhân Lộ). Sau năm 1973 thành lập thêm các tổ GK3, GK4.


























