
Một tàu chở dầu đậu ở cảng Mỹ (Ảnh: Reuters).
Xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ của Mỹ đã tăng lên mức kỷ lục vào tuần trước, đạt gần 12,9 triệu thùng mỗi ngày, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ. Các chuyến hàng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) cũng tăng mạnh, theo công ty theo dõi tàu Kpler, với xuất khẩu đạt mức cao nhất mọi thời đại trong tháng trước.
Cơn sốt này chưa có dấu hiệu chậm lại: Tính đến ngày 22/4, hơn 60 siêu tàu chở dầu thô trống rỗng đang hướng về phía Mỹ, cao gấp khoảng 3 lần mức trước xung đột, cho thấy xuất khẩu của Mỹ sẽ còn tiếp tục tăng trong những tháng tới.
Tổng thống Donald Trump đã ca ngợi sự mở rộng dấu ấn của Mỹ trong thương mại năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, theo các chuyên gia năng lượng, Mỹ sẽ đối mặt với những trở ngại trong việc biến nhu cầu thời kỳ xung đột thành động lực dài hạn.
Ở châu Á, việc cải tạo hạ tầng năng lượng để xử lý dầu thô của Mỹ sẽ rất tốn kém. Còn châu Âu ngày càng lo ngại về sự phụ thuộc vào Mỹ khi quan hệ giữa ông Trump và các lãnh đạo chính trị đang có những rạn nứt nhất định.
“Lo ngại là Mỹ, đặc biệt dưới thời ông Trump, sẽ sử dụng điều này như một đòn bẩy chính trị. Họ lo rằng Mỹ có thể sử dụng sự phụ thuộc nguồn cung này để phục vụ lợi ích của mình trong các vấn đề như chính sách khí hậu, NATO, an ninh hay thuế quan", ông Henning Gloystein từ tổ chức Eurasia Group cho biết.
Hiện tại, các quốc gia gần như không có nhiều lựa chọn khác. Xuất khẩu tăng từ Mỹ đã giúp bù đắp, dù chưa hoàn toàn, khoảng trống nguồn cung do việc siết chặt eo biển Hormuz gây ra.
Hơn 10 triệu thùng dầu và sản phẩm dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 10% nguồn cung toàn cầu, đang bị mắc kẹt tại tuyến đường này. Mỹ cũng nổi lên như một nguồn cung quan trọng đối với các sản phẩm như nhiên liệu máy bay và nhiên liệu nấu ăn vốn bị gián đoạn nghiêm trọng bởi xung đột.
Châu Á, khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào nhiên liệu từ Trung Đông, đang tích cực mua thêm năng lượng từ Mỹ. Những quốc gia như Nhật Bản, nơi gần 95% lượng dầu nhập khẩu đến từ khu vực này, đã phản ứng với xung đột bằng cách tìm cách thắt chặt quan hệ với các nhà cung cấp Mỹ.
Trong tháng 3, các công ty Mỹ đã ký các thỏa thuận năng lượng trị giá 56 tỷ USD với các nhà đầu tư châu Á tại một diễn đàn ở Tokyo do Bộ trưởng Nội vụ Mỹ Doug Burgum chủ trì.
“Chúng ta cần bán năng lượng cho bạn bè và đồng minh để họ không phải mua từ đối thủ, để họ không phải phụ thuộc vào những nguồn năng lượng có thể bị kiểm soát", ông Burgum nói.
Xuất khẩu dầu thô và LNG của Mỹ sang châu Á đã tăng khoảng 30% trong tháng 3 và 4 so với cùng kỳ năm trước, theo Kpler.
“Tôi không nghĩ chúng ta sẽ còn thấy Nhật Bản phụ thuộc 90% vào dầu từ Vùng Vịnh thêm một lần nào nữa”, ông William Chou từ Viện Hudson nhận định.
Tuy nhiên, các nước châu Á bị hạn chế bởi sự không tương thích về hạ tầng. Các nhà máy lọc dầu tại đây được thiết kế để xử lý dầu nặng và có hàm lượng lưu huỳnh cao từ Trung Đông, chứ không phải loại dầu nhẹ của Mỹ. Dù vẫn có thể sử dụng dầu nhẹ, quá trình này kém hiệu quả và ít lợi nhuận hơn.
Việc cải tạo các nhà máy lọc dầu tại châu Á sẽ đòi hỏi chi phí lớn và mất nhiều thời gian, từ vài tháng để thiết kế đến nhiều năm để triển khai hoàn chỉnh, theo Parul Bakshi tại Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford.
Bản thân Mỹ cũng đối mặt với một số hạn chế. Các cơ sở xuất khẩu dầu lớn tại Texas và Louisiana đang tiến gần giới hạn vật lý trong việc nạp thêm tàu. Một cảng xuất khẩu LNG mới tại Bờ Vịnh đã gửi chuyến hàng đầu tiên trong tuần này tới Bỉ, nhưng dự kiến phải đến năm 2027 mới đạt công suất tối đa.
Khi hạ tầng mới đi vào hoạt động, năng lượng Mỹ có thể mất bớt sức hấp dẫn với người mua nước ngoài. Chi phí cao và thời gian vận chuyển lâu từ Mỹ vốn khiến nguồn cung này kém cạnh tranh hơn tại châu Á. Khi eo biển Hormuz được mở lại và giá năng lượng Trung Đông ổn định, “dầu và khí từ Mỹ sẽ không còn hấp dẫn như trước”, ông Tsuneo Watanabe từ Quỹ Hòa bình Sasakawa nhận định.
Đối với châu Âu, cuộc chiến đã thúc đẩy mạnh mẽ nỗ lực chuyển sang năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, quá trình này cần thời gian, và trong ngắn hạn khu vực này có thể sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào năng lượng Mỹ.
Liên minh châu Âu đã đẩy mạnh nhập LNG từ Mỹ sau khi cắt giảm nguồn cung từ Nga. Hiện khoảng 60% LNG của khối đến từ Mỹ, dù tổng tỷ trọng trong toàn bộ nhập khẩu khí (bao gồm khí đường ống) khoảng 25%, theo Ủy ban châu Âu.
Những lời cảnh báo của ông Trump về việc kiểm soát Greenland hồi tháng 1 đã làm dấy lên lo ngại về độ tin cậy của nguồn cung Mỹ. Ủy viên Năng lượng EU Dan Jørgensen khi đó cảnh báo: “Chúng ta có nguy cơ thay thế sự phụ thuộc này bằng một sự phụ thuộc khác".
Chính quyền ông Trump sau đó đã sử dụng xuất khẩu LNG như một công cụ trong đàm phán thương mại, với Đại sứ Mỹ tại EU cảnh báo khối này có thể mất quyền tiếp cận ưu đãi nếu không thông qua một thỏa thuận thương mại đang bị đình trệ.
Hiện tại, châu Âu cần LNG của Mỹ để lấp đầy các kho dự trữ khí đốt vốn đang ở mức thấp nhiều năm trước mùa đông tới. Khu vực này cũng phải dựa vào Mỹ để thay thế nguồn nhiên liệu máy bay vốn thường nhập từ Trung Đông.
Châu Âu cũng có khả năng phải dựa vào khí đốt Mỹ để bù đắp nguồn cung bị mất từ Qatar, sau khi trung tâm LNG Ras Laffan của nước này bị hư hại trong xung đột, theo nhận định của ông Gloystein.
“Các quốc gia sẽ mua thêm LNG của Mỹ vì đó là nguồn cung bổ sung duy nhất đang xuất hiện trên thị trường. Dù họ có thích hay không, họ vẫn sẽ phải làm vậy", ông nói.


























