Kinh nghiệm nhiều năm vật lộn với dạy thêm của Trung Quốc cho thấy: có thể dẹp biển hiệu, nhưng rất khó dập được cái chợ ấy nếu cái gốc sinh ra nó vẫn còn.
Trung Quốc quản dạy thêm từ sớm, bằng nhiều quy định và những đợt can thiệp rất mạnh. Đỉnh điểm là chính sách "giảm kép" năm 2021, sau đó là hàng loạt văn bản để phân loại dạy thêm học thuật (dạy thêm chương trình chính khóa) và phi học thuật (các lớp như thể thao, âm nhạc, mỹ thuật, múa, nghệ thuật, lập trình hay kỹ năng thực hành), siết cơ sở học thuật, quản lý học phí thu trước, siết các hình thức "ẩn hình, biến tướng", rồi mở rộng quản lý sang cả khu vực phi học thuật. Một thị trường mà phải kéo cả nhiều bộ, ngành cùng vào cuộc, đủ thấy nó không còn là chuyện nhỏ.
Một ví dụ rất rõ là "Thông báo của Bộ Giáo dục và sáu bộ, ngành về tăng cường giám sát tiền thu trước của các cơ sở đào tạo ngoài trường" ban hành ngày 29/10/2021. Tên văn bản đã cho thấy cách tiếp cận của họ: không chỉ quản nội dung dạy học, mà còn quản dòng tiền, học phí, hợp đồng và rủi ro xâm hại quyền lợi phụ huynh, học sinh.
Cuối năm 2022, Trung Quốc lại có thêm "Ý kiến của Bộ Giáo dục và 13 bộ, ngành về chuẩn hóa đào tạo ngoài trường phi học thuật cho học sinh phổ thông". Nghĩa là họ không chỉ dọn lớp học, mà còn tìm cách minh bạch hóa cả thị trường.
Trung Quốc siết rất mạnh phía cung. Họ chặn phê duyệt mới với cơ sở dạy thêm học thuật cho học sinh giai đoạn giáo dục bắt buộc, buộc nhiều cơ sở đổi sang phi lợi nhuận, siết quảng cáo, siết tiền thu trước, siết cả những hình thức lách luật. Điều đó cho thấy họ hiểu rất rõ: nếu không quản mạnh người bán, thị trường sẽ phình ra rất nhanh.
Nhưng một sự thật khác cũng hiện lên rõ không kém: nếu chỉ siết người bán mà không giảm nỗi lo của người mua, thị trường ấy sẽ không mất đi, nó chỉ đổi hình thức.
Tương tự, quy định nhiều chưa chắc đã triệt tiêu dạy thêm, nếu cái gốc sinh ra nhu cầu học thêm vẫn còn đó.
Theo các thống kê của Bộ Giáo dục Trung Quốc sau khoảng hai năm siết quản lý, thị trường dạy thêm các môn trong chương trình chính khóa đã co lại, chi tiêu của người dân cho việc học thêm các môn văn hóa giảm 40%.
Nhưng nhu cầu học thêm không mất. Reuters dẫn số liệu của Plenum China cho biết, chỉ trong nửa đầu năm 2024, số giấy phép hợp lệ của các trung tâm dạy thêm vì lợi nhuận tăng 11,4%; nhiều trung tâm lớn tuyển lại hàng nghìn vị trí, còn phụ huynh lại chi tiền cho gia sư và các lớp học dưới tên gọi khác.
Điều đó cho thấy, họ có thể nén mạnh phần nổi của thị trường, nhưng rất khó làm nó biến mất nếu cái gốc sinh ra nó vẫn còn.
Vậy Việt Nam nên nhìn nhận và rút ra điều gì từ kinh nghiệm đó?
Vấn đề của dạy thêm không chỉ nằm ở trung tâm dạy thêm. Nó nằm ở nỗi lo của phụ huynh và học sinh. Khi một kỳ thi quyết định quá nhiều cơ hội, phụ huynh sẽ tìm mọi cách để con không tụt lại. Khi tuyển sinh là một cuộc chen chúc qua cửa hẹp, học sinh sẽ học thêm vì sợ thua. Khi chương trình còn nặng, cách dạy còn thiên về chạy nội dung, kiểm tra còn chuộng luyện đề, thì lớp học thêm đương nhiên mọc lên như một dịch vụ vá lỗ hổng.
Đóng cửa lớp này, thị trường sẽ mở lớp khác. Cấm trung tâm này, phụ huynh sẽ tìm gia sư kia. Dẹp "chợ cóc" ngoài mặt đường, nó sẽ lùi vào ngõ nhỏ, lên mạng, vào căn hộ, vào nhóm kín.
Vì thế, nếu chỉ nhìn dạy thêm như một hiện tượng cần trấn áp, Nhà nước rất dễ rơi vào thế "trấn" mãi mà không "áp" hết.
Phía cung có thể quản chặt, từ điều kiện hoạt động, chuẩn giáo viên, hợp đồng dịch vụ, học phí, tiền thu trước, dữ liệu học sinh đến quảng cáo gian dối, dạy trước chương trình và các kiểu lôi kéo, ép buộc học thêm trá hình.
Nhưng phần khó hơn là phía cầu.
Việt Nam cần rút được bài học từ kinh nghiệm của Trung Quốc. Không thể chỉ quét thị trường ngoài trường mà phải kéo trách nhiệm trở lại nhà trường, từ hiệu trưởng, tổ bộ môn đến từng giáo viên, đồng thời giảm gánh nặng bài tập và sự lệ thuộc của phụ huynh vào thị trường luyện thi.
Nếu nhà trường chưa đủ mạnh, thị trường dạy thêm sẽ còn mạnh. Nếu giáo viên trong trường chưa sống được bằng nghề, chưa được hỗ trợ chuyên môn đủ tốt, chưa bảo đảm về đạo đức nghề nghiệp, chưa có điều kiện giúp học sinh bù đắp lỗ hổng ngay trong trường, thì xã hội sẽ tiếp tục đi tìm lời giải bên ngoài. Nếu thi cử còn khiến cả phụ huynh lẫn học sinh luôn sống trong tâm thế bất an, thì cấm đoán chỉ làm nhu cầu đổi hình thức.
Quản lý nhà nước với dạy thêm vì thế không nên dừng ở câu hỏi có cho mở lớp hay không. Câu hỏi phải là: vì sao học sinh vẫn thấy không học thêm thì không yên.
Hoàng Ngọc Vinh


























