Lời tòa soạn:
Trong công cuộc giành độc lập, tự do của dân tộc, mỗi chiến công oanh liệt đều được viết nên bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những con người Việt Nam bình dị mà vĩ đại.
Từ chiếc xe đạp thồ huyền thoại đến các sáng chế vũ khí, thiết bị và giải pháp hậu cần đầy sáng tạo, mang đậm tinh thần Việt Nam, tất cả đã góp phần làm nên thế trận nhân dân.
Dân trí trân trọng giới thiệu tới độc giả tuyến bài “Những sáng chế góp nên độc lập”, nhằm tôn vinh tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của người Việt, tỏa sáng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình.
Khám phá khẩu súng săn của đồng bào vùng cao trong khởi nghĩa Bắc Sơn (Video: Vũ Thanh Bình).
Ngày 22/9/1940, quân Nhật từ Trung Quốc tiến xuống đánh chiếm Lạng Sơn. Quân Pháp khi đó chống cự yếu ớt rồi rút chạy qua châu Bắc Sơn, bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở địa phương dần suy yếu và rối loạn.
Nằm giữa vùng núi đá vôi trùng điệp, Bắc Sơn hiện lên với địa hình hiểm trở cùng hệ thống hang động kỳ vĩ, trong đó có những hang rộng tới 12.000 mét vuông, kéo dài hàng ki lô mét.
Đây là nơi cư trú của nhiều cộng đồng dân tộc như Tày, Nùng, Dao, Hoa và Kinh, trong đó, người Tày chiếm tỷ lệ lớn nhất, khoảng 80% dân số.
Đội võ trang cách mạng đầu tiên
Theo Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, nắm bắt thời cơ, lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân Bắc Sơn đã nổi dậy tấn công đồn địch, giành quyền kiểm soát một số khu vực nông thôn, bước đầu thành lập chính quyền cách mạng.

Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam trao đổi với phóng viên Dân trí (Ảnh: Đoàn Thủy).
"Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, ta chỉ có một ít súng trường, súng kíp, còn lại đa phần là giáo mác, gậy gộc", Trung tá Trần Hữu Huy chia sẻ.
Tối 26/9/1940, tại đình làng Nông Lục, xã Hưng Vũ (cũ), một cuộc họp với sự tham gia trực tiếp của các cán bộ Châu ủy Bắc Sơn để thảo luận, phân tích tình hình và quyết định phương hướng, hành động đánh đồn Mỏ Nhài và thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa.

Du kích tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9/1940. (Ảnh tư liệu)
Tình hình Bắc Sơn lúc này đã chín muồi khi chính quyền thực dân Pháp đang tan rã ở khắp nơi, nhiều tên quan đã bỏ trốn trước uy thế quân Nhật cũng như áp lực của quần chúng cách mạng.
Đồng thời, người dân các dân tộc tại Bắc Sơn sôi sục căm thù, quyết tâm đánh địch, tự vệ vũ trang đã sẵn sàng, lương thực thóc gạo đã được chuẩn bị.
20h ngày 27/9/1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chính thức bùng nổ. Tuy chưa có kinh nghiệm tác chiến nhưng với khí thế hùng dũng, đồng bào, chiến sĩ vùng cao xông lên, vừa nổ súng vừa kêu gọi binh lính trong đồn đầu hàng quân cách mạng.
Đồn Mỏ Nhài bị quân khởi nghĩa chiếm được sau cuộc tấn công chớp nhoáng, nghĩa quân kiểm soát khắp nơi, binh lính địch hoảng sợ bỏ chạy, chính quyền bị tan rã.
Nghĩa quân chiếm được đồn, thu 10 khẩu súng trường, 6 súng kíp, 2 gánh đạn...
Khẩu súng săn của đồng bào vùng cao
Khởi nghĩa Bắc Sơn nhanh chóng lan rộng sang các địa phương lân cận, diễn ra trên một địa bàn không rộng và trong thời gian ngắn, song đã tạo tiếng vang lớn trên phạm vi cả nước, đóng góp to lớn về nhiều mặt đối với cách mạng Việt Nam.
Ngày 14/2/1941, Đội du kích Bắc Sơn được thành lập và phát triển, huy động được thêm nhiều súng kíp (tổng cộng khoảng 200 khẩu) để trang bị cho đội. Đây là một trong những đội võ trang cách mạng đầu tiên, được trang bị vũ khí tốt nhất thời điểm đó.
Ở khu vực Bắc Sơn (Lạng Sơn), súng kíp là loại súng tự chế tạo hoặc lưu truyền, vốn là công cụ quen thuộc của đồng bào dân tộc để săn bắn và tự vệ.

Súng kíp là dụng cụ săn bắn chim thú của đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn (Ảnh: Bảo tàng Lạng Sơn).
Khi khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, loại vũ khí này nhanh chóng được huy động làm phương tiện chiến đấu chính.
Về cấu tạo, báng súng làm bằng gỗ, nòng súng là ống thép tròn, kéo dài liền mạch từ bộ phận cò tới đầu súng.
Kích thước khẩu súng kíp dài từ 107-117cm, độ rộng của báng khoảng 12cm, độ dày từ 8-12cm và thường có màu nâu đen.
Súng vận hành theo cơ chế điểm hỏa thủ công, bắn từng phát một, sử dụng thuốc súng đen, có độ chính xác và tốc độ bắn hạn chế.


























