Lời tòa soạn:
Trong công cuộc giành độc lập, tự do của dân tộc, mỗi chiến công oanh liệt đều được viết nên bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những con người Việt Nam bình dị mà vĩ đại.
Từ chiếc xe đạp thồ huyền thoại đến các sáng chế vũ khí, thiết bị và giải pháp hậu cần đầy sáng tạo, mang đậm tinh thần Việt Nam, tất cả đã góp phần làm nên thế trận nhân dân.
Dân trí trân trọng giới thiệu tới độc giả tuyến bài “Những sáng chế góp nên độc lập”, nhằm tôn vinh tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của người Việt, tỏa sáng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình.
Loại mìn "Make in Vietnam" leo cây, bám nước chặn đứng khí tài địch (Video: Thanh Bình).
Đầu năm 1961, Chiến tranh đặc biệt được triển khai tại miền Nam, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh các chiến thuật cơ động hiện đại như "trực thăng vận", "thiết xa vận".
Sự thay đổi này đặt ra thách thức lớn đối với lực lượng cách mạng, đồng thời tạo ra yêu cầu cấp thiết về các loại vũ khí gọn nhẹ, hiệu quả cao, phù hợp với lối đánh du kích và điều kiện địa hình phức tạp.
Mìn định hướng phá rào, đánh xe bọc thép
Trước yêu cầu đó, Phòng Vũ khí thuộc Cục Nghiên cứu Kỹ thuật đã nghiên cứu, chế tạo thành công mìn định hướng ĐH-10, một loại khí tài có khối lượng khoảng 10kg, được thiết kế chuyên biệt để tăng cường khả năng sát thương trong không gian định hướng.
Theo Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, về cấu tạo, mìn ĐH-10 sử dụng nguyên lý khối nổ lõm, với mặt trước được thiết kế cong dạng chóp nón hoặc cánh cung nhằm tập trung và định hướng luồng nổ.
Thân mìn có đường kính khoảng 300mm, dày 55mm, vỏ thép dày 3mm. Bên trong, mặt lõm được bố trí từ 500 đến 600 mảnh thép (dây thép cắt ngắn hoặc bi sắt), cố định bằng chất kết dính. Sử dụng lượng thuốc nổ khoảng 2.8-3kg.
Thiết kế chân mìn cũng được cải tiến từ bốn chân sang ba càng, giúp tăng độ ổn định khi lắp đặt và linh hoạt trong triển khai.

Cấu tạo mìn ĐH-10 gồm khối nổ, lớp mảnh thép và chân đế ổn định.
Khi kích nổ, mìn tạo ra luồng mảnh văng hình quạt, tập trung theo hướng định trước, cho phép tiêu diệt mục tiêu trong cự ly từ 100 đến 300m, với chiều rộng vùng sát thương khoảng 30-50m.
Mìn có khả năng xuyên thủng thép dày 2-3mm, đủ sức gây hư hại đối với xe cơ giới, xe bọc thép như M113, cũng như tàu thuyền vỏ mỏng.
Sau khi thử nghiệm thành công, quy trình sản xuất ĐH-10 được chuyển vào các cơ sở quân giới tại miền Nam, cho phép chế tạo tại chỗ, đáp ứng nhanh nhu cầu chiến trường.

Cấu tạo của mìn định hướng ĐH-10 (Thiết kế: Kim Ngân).
"Trong thực tế chiến đấu, loại mìn này được sử dụng linh hoạt trong nhiều tình huống như phục kích, phá rào, đánh xe cơ giới, tàu thuyền và cả mục tiêu bay thấp.
Khi kết hợp từ 3 đến 5 quả, ĐH-10 có thể phá hủy hàng rào thép gai, tạo cửa mở cho lực lượng đặc công", Trung tá Trần Hữu Huy phân tích.
Ngoài ra, mìn có thể được bố trí trên cây hoặc dưới nước để mở rộng phạm vi tác chiến. Nhờ tính cơ động và hiệu quả cao, ĐH-10 trở thành một trong những khí tài tiêu biểu của ngành quân giới Việt Nam, góp phần nâng cao khả năng tác chiến linh hoạt và gây tổn thất đáng kể cho đối phương.
Phát huy hiệu quả trong các trận đánh
So với mìn định hướng M18A1 Claymore do Mỹ chế tạo trước đó, ĐH-10 có kích thước lớn hơn, sức công phá mạnh hơn và tính đa dụng cao hơn.
Nhờ những đặc tính này, ĐH-10 được lực lượng vũ trang các cấp sử dụng rộng rãi, trở thành một trong những loại vũ khí gây nhiều tổn thất cho đối phương trong chiến tranh.

Quân giải phóng miền Nam dùng mìn định hướng (Ảnh: Tư liệu).
Trong một trận đánh năm 1967 tại khu vực ven sông Sài Gòn, chỉ với hai quả mìn ĐH-10, lực lượng ta đã gây thương vong cho hàng trăm nhân viên tình báo và sĩ quan Mỹ.
Sau trận đánh này, hàng trăm quả mìn đã được bí mật vận chuyển vào nội thành để trang bị cho lực lượng biệt động và đặc công, phục vụ các hoạt động trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Trong một trận đánh tại khu vực Vũng Ghe, ấp Bến Đồn, lực lượng du kích địa phương phối hợp với phân đội công binh đã đánh lui ba đợt tiến công của một tiểu đoàn Mỹ, tiêu diệt 24 binh lính và thu giữ 12 khẩu súng.
Đáng chú ý, chỉ một quả mìn ĐH-10 của tổ du kích đã gây thương vong cho 7 binh lính đối phương.
Đồng thời, mìn ĐH-10 có khả năng tác chiến với mục tiêu trên không tầm thấp.
Năm 1969, khi quân địch sử dụng trực thăng đổ quân xuống xã Long Nguyên, huyện Bến Cát (cũ) nhằm tập kích xưởng quân giới của huyện, lực lượng ta đã bố trí mìn do chính xưởng sản xuất, bắn cháy một trực thăng UH-1.
Đặc biệt, trận đánh ngày 7/7/1972 tại Quảng Nam (cũ) được xem là điển hình khi mìn ĐH-10 được sử dụng để tiêu diệt trực thăng đang bay.

Mìn ĐH-10 phù hợp với cách đánh và điều kiện chiến trường Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Mỹ (Ảnh: Tư liệu).
Nắm được quy luật hoạt động của máy bay đối phương, một tổ du kích đã bố trí mìn ĐH-10 trên các tán cây ven sông.
Khi chiếc trực thăng đi đầu trong đội hình ba chiếc phát hiện dấu hiệu khả nghi và hạ thấp độ cao để quan sát, tổ du kích đã kích nổ mìn đúng thời điểm. Vụ nổ khiến chiếc trực thăng bốc cháy và rơi xuống đất, hai chiếc còn lại lập tức rút lui về Đà Nẵng.
Mìn định hướng ĐH-10 cũng tiếp tục được sử dụng trong chiến tranh biên giới Tây Nam và phát huy hiệu quả đáng kể.
Hiện nay, loại mìn này vẫn nằm trong trang bị của lực lượng đặc công và công binh.


























