Nhiều năm tư vấn pháp lý về thừa kế, luật sư Trịnh Văn Dũng (Đoàn luật sư TP Hà Nội), cho biết câu hỏi "Bố mẹ không chia tài sản cho con đẻ có được không?" luôn nằm trong nhóm vấn đề được quan tâm nhiều nhất.
Ngược lại, cũng có nhiều tranh chấp phát sinh khi con cái cho rằng mình đương nhiên phải được hưởng di sản vì là con ruột. Chính sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ xã hội và quy định pháp luật khiến nhiều gia đình rơi vào tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ huyết thống.

"Bố mẹ không chia tài sản cho con đẻ có được không?" luôn nằm trong nhóm vấn đề được quan tâm nhiều nhất (Ảnh minh hoạ: Thiết kế của AI).
Theo pháp luật dân sự hiện hành và vẫn được áp dụng ổn định đến năm 2026, quyền sở hữu tài sản gắn liền với quyền định đoạt của cá nhân. Điều này đồng nghĩa với việc cha mẹ, khi còn sống và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn có quyền quyết định ai được hưởng và ai không được hưởng tài sản của mình sau khi qua đời.
"Tuy nhiên, quyền này không phải là tuyệt đối mà vẫn chịu sự giới hạn nhất định nhằm bảo vệ các chủ thể yếu thế", luật sư nói.
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản thừa kế bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết, cụ thể đó là tài sản riêng của người chết; Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; Quyền sử dụng đất; Các quyền tài sản khác theo quy định của pháp luật.
"Không chỉ nhà đất, tiền, vàng mà cả cổ phần, phần vốn góp, quyền đòi nợ, quyền khai thác tài sản... đều có thể trở thành di sản thừa kế nếu thuộc sở hữu hợp pháp của người để lại di sản", luật sư khái quát.
Theo luật sư Dũng, pháp luật Việt Nam công nhận hai hình thức thừa kế chính: Thừa kế theo di chúc (Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015) và thừa kế theo pháp luật (Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015).
Trong đó, thừa kế theo di chúc được ưu tiên áp dụng. Chỉ trong trường hợp không có di chúc hợp pháp, di chúc bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần, hoặc những người được chỉ định trong di chúc không còn tồn tại, thì di sản mới được chia theo pháp luật.
Điều này thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng ý chí của cá nhân đối với tài sản của mình, kể cả trong quan hệ gia đình.
Cha mẹ có quyền không để lại tài sản cho con đẻ?
Theo Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc có thể được lập bằng văn bản hoặc bằng miệng trong trường hợp đặc biệt, nhưng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định để được công nhận hợp pháp.
Di chúc không chỉ là công cụ phân chia tài sản mà còn là phương tiện pháp lý để người lập di chúc thể hiện mong muốn, nguyện vọng cuối cùng của mình đối với tài sản, gia đình và các mối quan hệ xã hội.
Căn cứ Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có các quyền chỉ định người thừa kế; Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Phân định phần di sản cho từng người; Dành một phần tài sản để di tặng hoặc thờ cúng; Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản.
"Từ quy định này có thể khẳng định, cha mẹ hoàn toàn có quyền không chia tài sản cho con đẻ, nếu ý chí đó được thể hiện rõ ràng trong di chúc hợp pháp. Pháp luật không đặt ra nghĩa vụ bắt buộc cha mẹ phải chia tài sản cho tất cả các con", luật sư phân tích.
Thực tế, luật sư chia sẻ từng gặp nhiều trường hợp người lập di chúc loại bỏ quyền hưởng di sản của một người vốn thuộc diện thừa kế theo pháp luật, bao gồm cả con đẻ.
"Việc truất quyền thường xuất phát từ các lý do như con cái không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ; Xúc phạm nghiêm trọng, bạo lực, ngược đãi; Con đã được cha mẹ cho tài sản lớn khi còn sống; Mâu thuẫn gia đình kéo dài không thể hàn gắn.
Pháp luật không yêu cầu người lập di chúc phải nêu lý do truất quyền, chỉ cần thể hiện rõ ý chí trong di chúc hợp pháp là đủ cơ sở pháp lý", luật sư dẫn chứng.
Theo luật sư, trong thực tiễn tranh chấp, rất nhiều vụ án xoay quanh việc con cái cho rằng cha mẹ bị bệnh, già yếu, không còn nhận thức đầy đủ khi lập di chúc. Do đó, việc chứng minh tình trạng minh mẫn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Việc không để lại tài sản cho con đẻ không bị coi là trái đạo đức xã hội theo pháp luật hiện hành, miễn là không nhằm mục đích xâm phạm quyền lợi bắt buộc của người được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp con vẫn được hưởng di sản dù không có tên trong di chúc.
Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo đó, những trường hợp như con chưa thành niên; Con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động; Vợ hoặc chồng của người chết; Cha, mẹ của người chết... vẫn được hưởng ít nhất hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, kể cả khi bị truất quyền trong di chúc.
Khi không chia tài sản cho con và để hạn chế rủi ro tranh chấp, theo luật sư, cha mẹ nên lập di chúc bằng văn bản có công chứng; Ghi nhận rõ ràng ý chí không để lại tài sản cho con; Phân định rõ tài sản riêng và tài sản chung; Có hồ sơ y tế, nhân chứng chứng minh tình trạng minh mẫn; Tham vấn luật sư chuyên về thừa kế trước khi lập di chúc.
Liên quan đến câu chuyện thừa kế di sản, bạn gặp phải những vấn đề khó khăn cần giải đáp pháp lý; hay đơn giản là muốn chia sẻ câu chuyện của mình, vui lòng gửi về toà soạn qua hòm thư: [email protected]. Câu chuyện của bạn có thể được biên tập nếu cần. Trân trọng.


























