
Đội hình gồm các tàu rà phá thủy lôi và máy bay trực thăng MH-53E Sea Dragon của Mỹ diễn tập phá thủy lôi trên biển Ả rập (Ảnh: Reuters).
Mỹ đang cố gắng phong tỏa eo biển Hormuz khỏi thủy lôi như một phần trong nỗ lực chấm dứt sự gián đoạn vận chuyển hàng hải của Iran, động thái vốn đã làm giảm nghiêm trọng nguồn cung năng lượng toàn cầu kể từ khi chiến sự bùng nổ hôm 28/2.
Theo các nhà phân tích quân sự, rà phá thủy lôi là điều kiện cần thiết để tàu thuyền có thể lưu thông trở lại ở eo biển Hormuz, thay vì phải đi theo các tuyến đường dài và chậm hơn do Iran đưa ra.
Nhưng trong khi Washington có thể dựa vào công nghệ hiện đại nhằm kiểm tra và loại bỏ thủy lôi từ xa, việc rà phá tuyến đường thủy chiến lược như eo biển Hormuz vẫn gặp nhiều khó khăn vì đây là một quá trình cần chậm và gồm nhiều bước, các cựu sĩ quan hải quân và các chuyên gia trong ngành cho biết.
Quân đội Mỹ hồi cuối tuần qua cho biết đã bắt đầu chiến dịch rà phá thủy lôi, điều hai tàu chiến đi qua eo biển, nhưng không cung cấp nhiều chi tiết về thiết bị liên quan.
Trong một tuyên bố hôm 18/4, quân đội Mỹ cho biết các lực lượng bổ sung, bao gồm cả các tàu lặn không người lái, sẽ tham gia vào nỗ lực này trong những ngày tới. Đây chính là những phương tiện này ngày càng trở thành một phần quan trọng trong nỗ lực của hải quân Mỹ khi họ đã loại biên nhiều tàu quét mìn chuyên biệt.
"Chúng ta sẽ không còn nhiều lo lắng về tổn thất sinh mạng, vì vậy đưa tàu lặn không người lái qua bãi thủy lôi sẽ dễ chấp nhận hơn nhiều. Đó là những mất mát có thể thay thế được", Scott Savitz, kỹ sư cao cấp tại hãng nghiên cứu RAND, cho biết.
Hãng tin Reuters hồi tháng trước dẫn nguồn tin thân cận đưa tin: Iran gần đây đã triển khai khoảng chục quả thủy lôi ở eo biển Hormuz. Vị trí chính xác của các quả thủy lôi này hiện chưa được công khai. Tuy nhiên, Iran bác bỏ thông tin này.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cuối tuần qua tuyên bố tất cả các tàu rải thủy lôi của Iran đã bị đánh chìm. Nhưng một số chuyên gia cho rằng vẫn có nguy cơ Tehran có thể triển khai thêm các thiết bị khác.
Chiến tranh thủy lôi hiệu quả vì các thiết bị này rẻ, chi phí gỡ bỏ rất tốn kém và “ngay cả mối đe dọa từ một bãi thủy lôi cũng đủ để ngăn chặn các tàu, đặc biệt là tàu thương mại”, theo Jon Pentreath, một đô đốc hải quân Anh hiện đã nghỉ hưu cho biết.
Hiện đại hóa việc rào thủy lôi
Theo truyền thống, hải quân Mỹ thường dựa vào tàu quét mìn lớp Avenger cho nhiệm vụ rà phá thủy lôi. Chúng được chế tạo bằng gỗ và bọc sợi thủy tinh, có dấu hiệu từ tính rất thấp để tránh kích hoạt thủy lôi dùng ngòi nổ từ trường.
Các tàu thường trực tiếp tiến vào khu vực nghi có mìn, dùng hệ thống định vị thủy âm (sonar) để định vị các thiết bị và thiết bị cơ khí được kéo theo sau tàu để gỡ bỏ chất nổ, đôi khi có sự hỗ trợ của thợ lặn.
Nhưng phần lớn hạm đội cũ kỹ đó đã được cho nghỉ hưu. Hải quân Mỹ đã rút toàn bộ 4 tàu quét mìn lớp Avenger khỏi Trung Đông hồi đầu năm, sau hàng chục năm triển khai chúng ở khu vực.
Lực lượng này đang được thay thế bằng các tàu nhẹ hơn được gọi là tàu chiến ven biển (LCS) lớp Independence, mang theo thiết bị săn thủy lôi hiện đại như máy bay không người lái bán tự động trên mặt nước và dưới nước cũng như robot điều khiển từ xa cho phép thủy thủ đoàn giữ khoảng cách với bãi thủy lôi.
Hải quân Mỹ hiện đang triển khai ba tàu loại này. Nhưng hai trong số những tàu đó đang được bảo dưỡng tại Singapore chỉ vài ngày sau khi xung đột bùng phát, một quan chức cấp cao của Mỹ nói vào cuối tháng 3.
Vào thời điểm đó, năng lực rà phá thủy lôi của Mỹ ở Trung Đông bao gồm các phương tiện dưới nước không người lái, 4 tàu lớp Avenger truyền thống, máy bay trực thăng và thợ lặn, theo quan chức này.
Hải quân Mỹ hiện chưa có bình luận gì về các lực lượng rà phá thủy lôi đang triển khai ở Trung Đông. Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ (CENTOM) cũng từ chối cung cấp thêm chi tiết. Tuy nhiên, theo các nguồn tin, tàu chiến ven biển (LCS) lớp Independence của Mỹ đang hướng tới Trung Đông trong những ngày gần đây, khi Washington thể hiện quyết tâm rà phá thủy lôi để mở cửa eo biển Hormuz.
Trong khi đó, Iran được cho là sở hữu một số loại thủy lôi trên biển, theo các cựu quan chức hải quân và các chuyên gia khác. Chúng bao gồm thủy lôi đáy biển nằm trên đáy biển và phát nổ khi tàu đi qua, thủy lôi neo đậu nhưng nổi gần mặt nước hơn, thủy lôi trôi nổi trên mặt nước và thủy lôi dính trực tiếp vào thân tàu.
Chiến dịch của Mỹ có khả năng bắt đầu bằng tìm kiếm thủy lôi với xuồng và tàu lặn không người lái trang bị cảm biến. Khi phát hiện vật thể nghi ngờ, dữ liệu sẽ được chuyển về cho đội ngũ vận hành trên tàu chiến ở ngoài bãi thủy lôi để nhận dạng thiết bị. Sau đó, họ sẽ đưa ra phương án vô hiệu hóa nó.
Khả năng tìm kiếm hiện nay sẽ dựa vào các thiết bị không người lái trang bị sonar, cũng như máy bay trực thăng được sử dụng để phát hiện thủy lôi gần mặt nước, theo lời các cựu quan chức hải quân.
Để phá hủy thủy lôi, hải quân Mỹ có thể triển khai các hệ thống như Archerfish hình ngư lôi, một thiết bị điều khiển từ xa dài khoảng 2 mét mang theo chất nổ và truyền video về cho người điều khiển qua dây cáp, theo nhà sản xuất BAE Systems. Được thiết kế để sử dụng một lần, nó có giá hàng chục nghìn USD mỗi chiếc.
Washington cũng có thể sử dụng tàu không người lái kéo theo thiết bị rà phá thủy lôi để kích nổ hoặc thu gom thủy lôi, theo ông Bryan Clark, cựu sĩ quan hải quân Mỹ và chuyên gia tại Viện Hudson. Các chuyên gia cho biết, thợ lặn cũng đôi khi được sử dụng, bao gồm cả việc thu thập thông tin tình báo.
Quy trình chậm, từ từ
Việc rà phá thủy lôi ở eo biển có thể mất hai hoặc ba tuần, ông Clark cho hay.
Cũng theo ông, các cuộc tấn công của Iran vào các đội rà phá thủy lôi có thể làm chậm quá trình rà phá và gia tăng rủi ro. Do đó, ông nói, quân đội Mỹ có thể triển khai các biện pháp phòng thủ như tàu chiến và máy bay không người lái để bảo vệ các đội và hệ thống thiết bị.
“Việc tìm kiếm và phá hủy thủy lôi rất tốn thời gian", Đô đốc Daryl Caudle, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, nói hồi tháng 3. Theo ông, điều đó khiến khả năng rà phá thủy lôi “dễ bị tổn thương”.
Giới phân tích cho biết quân đội Mỹ có thể thực hiện quét sơ bộ để tìm thủy lôi khá nhanh trong phạm vi eo biển Hormuz. Sau khi xác định vị trí mìn, một đợt robot thứ hai có thể được triển khai để phá hủy chúng bằng thuốc nổ hoặc kích hoạt từ xa.
"Có thể khảo sát một luồng nhỏ ở khu vực đó trong vài ngày thay vì vài tuần, bằng cách sử dụng phương tiện không người lái. Sau khi giải tỏa được một tuyến di chuyển nhỏ, tàu có thể bắt đầu lưu thông qua đó, trước khi nó được mở rộng dần theo thời gian", ông Kevin Donegan, phó Đô đốc hải quân Mỹ về hưu, nói.
Phát triển các công nghệ mới
Các chuyên gia cho biết, quân đội Mỹ đang nỗ lực phát triển các công nghệ mới để đẩy nhanh quá trình rà phá thủy lôi, đặc biệt là thông qua những tiến bộ trong các cảm biến được sử dụng nhằm phát hiện dễ dàng hơn.
Tập đoàn công nghệ và quốc phòng Pháp Thales cho biết hệ thống sonar mới nhất của họ có thể quét một quả thủy lôi khả nghi từ 3 góc độ khác nhau trong một lần quét, một quá trình vốn thường yêu cầu nhiều lần quét.
Những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo (AI) cũng mở đường cho việc phân tích dữ liệu nhiều hơn trên các tàu không người lái. Về lâu dài, tham vọng là triển khai các nhóm hệ thống không người lái có khả năng tìm kiếm, nhận dạng và phá hủy thủy lôi, thay vì đó là một quy trình nhiều bước.
“Điều đó hiện chưa tồn tại", ông Mark Bock, một thuyền trưởng hải quân Mỹ đã nghỉ hưu, hiện là Phó Chủ tịch phát triển kinh doanh tại bộ phận Hải quân Mỹ của Thales, cho hay. “Nhưng đó là điều mà tất cả các quốc gia đang cố gắng đạt được hiện nay”, ông nhấn mạnh.


























