Theo đó, chỉ giảng viên trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư mới có hệ số quy đổi 1,0, tức được tính đủ 1 đơn vị giảng viên. Giảng viên trình độ thạc sĩ có hệ số 0,75, giảng viên trình độ đại học có hệ số quy đổi 0,5, lần lượt bằng 3/4 và 1/2 đơn vị giảng viên.
Với cách xác định chỉ tiêu mới là tối đa 40 học viên/ 1 giảng viên quy đổi, việc giảm hệ số giảng viên trình độ thạc sĩ sẽ tác động trực tiếp đến chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học kể từ năm nay.
Ngoài ra, Bộ cũng “siết” chỉ tiêu tuyển sinh bằng quy định về diện tích trường. Thông tư khống chế tỷ lệ diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo trên tổng số người học chính quy quy đổi không thấp hơn 2,8m²/người.
Giảng viên đồng cơ hữu phải đảm bảo tối thiểu 50% định mức giảng dạy của giảng viên cơ hữu và giảng dạy trọn vẹn ít nhất 1 học phần trong năm học. Giảng viên sau nghỉ hưu phải ký hợp đồng từ đủ 12 tháng trở lên và làm việc toàn thời gian.
Số lượng tuyển sinh được xác định hằng năm theo từng trình độ, hình thức, phương thức đào tạo và theo nhóm ngành, trừ các trường hợp phải xác định theo ngành gồm: ngành đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe, trình độ tiến sĩ và ngành mới mở trong năm tuyển sinh.
Các trường đại học thực hiện tuyển sinh không được vượt quá số lượng đã công bố, với mức vượt tối đa 10% đối với chỉ tiêu dưới 100 và 5% đối với chỉ tiêu từ 100 trở lên.
Về quy trình, cơ sở đào tạo phải cập nhật dữ liệu phục vụ xác định chỉ tiêu trước ngày 30/1 hằng năm; xác định và báo cáo số lượng tuyển sinh trước ngày 28/2; được điều chỉnh, bổ sung chỉ tiêu trước ngày 31/5 đối với trường hợp tự chủ. Đối với chỉ tiêu do Bộ thông báo, thời hạn đề xuất điều chỉnh là trước ngày 15/7 và mức điều chỉnh không quá 20%.
Thông tư có hiệu lực thi hành từ năm tuyển sinh 2026.


























