Tiền phúng viếng không phải di sản thừa kế
Anh Phan Diệp (tên nhân vật đã được thay đổi), quê Hải Phòng, chia sẻ gia đình anh có 2 chị em, anh là con út, chị gái là con cả.
"Khi mẹ ốm nặng, chị gái gần như không quan tâm chăm sóc bà, còn nói rằng đó là trách nhiệm của con trai. Đến khi mẹ tôi mất, chị cả không bỏ một đồng lo tang lễ, nhưng "ôm" hết toàn bộ tiền phúng viếng", anh bức xúc.
Nhiều năm hành nghề, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn luật sư TP Hà Nội), cho biết tranh chấp liên quan đến tiền phúng viếng sau tang lễ không phải hiếm gặp. Trong đó, câu hỏi luật sư nhận được nhiều nhất đó là khoản tiền này có được coi là di sản thừa kế hay không.

Theo luật sư, tiền phúng viếng không phải di sản thừa kế (Ảnh minh hoạ: Gia Đoàn).
"Câu hỏi không khó trả lời, nhưng khó trong cách xử lý, bởi những tranh chấp như vậy lẽ ra không nên xảy ra", luật sư nói.
Luật sư cho biết, tiền phúng điếu phát sinh từ sự kiện tang lễ, gắn với các mối quan hệ xã hội, họ hàng, công việc, quen biết của người thân người đã mất. Vì vậy, khoản tiền này không phải do người chết để lại, mà thuộc về các mối quan hệ của những người còn sống.
"Khoản tiền này không phải do người chết để lại, vì vậy pháp luật không coi tiền phúng viếng là di sản thừa kế. Di sản thừa kế được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết. Trong khi đó, tiền phúng viếng chỉ phát sinh sau khi người đó qua đời nên không được coi là tài sản của người chết", luật sư giải thích.
Dẫn chiếu Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, luật sư cho biết di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của họ trong khối tài sản chung. Do tiền phúng viếng không phải tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, lại phát sinh sau thời điểm người này qua đời nên không được xác định là di sản thừa kế.
Tiền phúng điếu phân chia thế nào?
Về cách xử lý tiền phúng điếu trong tang lễ, luật sư cho biết, hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể. Tuy nhiên, việc giải quyết có thể căn cứ vào tập quán, áp dụng tương tự pháp luật và các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 5 Bộ luật Dân sự 2015, tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.
Trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận, có thể áp dụng tập quán, miễn là không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Ngoài ra, Điều 6 Bộ luật Dân sự cũng cho phép áp dụng tương tự pháp luật hoặc các nguyên tắc cơ bản, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp.
Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.
Từ các quy định nêu trên, kết hợp với tập quán xã hội, theo luật sư, việc xử lý tiền phúng điếu cần được thực hiện một cách phù hợp. Trước hết, cần xác định rõ nguồn tiền phát sinh từ mối quan hệ nào, của ai, làm cơ sở phân định quyền quản lý, sử dụng và định đoạt.
"Tiền phúng điếu đến từ mối quan hệ đằng nội, đằng ngoại nên được ưu tiên giữ lại để chi phí cho hoạt động tang lễ. Trường hợp nguồn tiền này không đủ, các con dựa trên thỏa thuận hoặc nguyên tắc chia đều để thanh toán nốt phần còn thiếu.
Nguồn tiền phúng điếu đến từ mối quan hệ của ai thì giao về cho người đó. Bởi lẽ tiền phúng điếu này có được là do các mối quan hệ của người thân người mất. Đã là các mối quan hệ thì phải có qua có lại.
Hôm nay họ phúng viếng, lễ lạc với mình, thì khi họ có việc, mình cũng có trách nhiệm đáp lễ tương ứng. Việc phân định như trên sẽ bảo đảm sự công bằng trong các mối quan hệ", luật sư phân tích.


























