
Phiên thảo luận Hội thảo "Chuyển đổi xanh - Hiệu quả bền vững" - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Hội thảo "Chuyển đổi năng lượng xanh - động lực tăng trưởng bền vững" diễn ra chiều ngày 21-4, các chuyên gia tập trung phân tích các định hướng, giải pháp và cơ chế thúc đẩy quá trình chuyển năng lượng xanh, sạch, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Trong đó, nhiều dự án được các doanh nghiệp chuyển dịch sang năng lượng xanh như sử dụng điện mặt trời trên mái nhà máy, tối ưu sản xuất bằng dữ liệu đến biến bã mía thành điện năng, đã chứng minh hiệu quả kinh tế hoàn toàn có thể song hành với mục tiêu phát triển bền vững.
Bức tranh 3 nhóm doanh nghiệp chuyển đổi xanh
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM - cho biết chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn tại TP.HCM đang ở giai đoạn đầu, song mức độ khởi động có sự phân hóa rõ rệt.
Theo ông Quân, bức tranh hiện nay có thể chia thành ba nhóm chính.
Thứ nhất là nhóm tiên phong, những doanh nghiệp xem chuyển đổi xanh là chiến lược cốt lõi, đã tích hợp sâu vào mô hình kinh doanh và vươn ra thị trường quốc tế. Nhóm này thường là các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp toàn cầu hoặc doanh nghiệp lớn trong nước.
Thứ hai là nhóm đang thực hiện, gồm các doanh nghiệp đã quan tâm và bắt đầu triển khai ở mức độ nhất định, như trong lĩnh vực năng lượng tái tạo hay kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, việc chuyển đổi vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa mang tính chiến lược để tạo ra chuỗi giá trị cao.
Thứ ba là nhóm đang quan tâm, chiếm số đông, hiện mới dừng lại ở việc tìm hiểu. Việc triển khai còn hạn chế, chủ yếu do thiếu nguồn lực và chính sách hỗ trợ.

PGS.TS Nguyễn Hồng Quân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Đặt mục tiêu dài hạn, hành động ngắn hạn
Ông Nguyễn Ngọc Thành - Giám đốc Marketing Công ty CP Sản xuất Nhựa Duy Tân, đại diện Tập đoàn SCG - cho biết chiến lược phát triển bền vững được xây dựng trên bốn trụ cột: Hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; Phát triển xanh; Ggiảm bất bình đẳng; Cuối cùng là Thúc đẩy hợp tác thực chất.
Trong thực tế triển khai, doanh nghiệp này đã áp dụng điện mặt trời tại các nhà máy ở Bình Dương và Long An. Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý sản xuất cũng được xác định là yếu tố then chốt.
Thông qua hệ thống kiểm soát quy trình, ông Thành cho hay doanh nghiệp có thể tối ưu hiệu suất vận hành, qua đó giảm tiêu hao tài nguyên và cải thiện các chỉ số môi trường, bao gồm dấu chân carbon. Đáng chú ý, các dữ liệu đo lường từ quá trình này không chỉ phục vụ quản trị nội bộ mà còn trở thành cơ sở để doanh nghiệp chứng minh năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế.

Ông Nguyễn Ngọc Thành - giám đốc Marketing Công ty CP sản xuất nhựa Duy Tân (Đại diện Tập đoàn SCG - Ảnh: QUANG ĐỊNH
"Các đối tác quốc tế, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, đang áp dụng yêu cầu rất nghiêm ngặt về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Việc đáp ứng các tiêu chuẩn này giúp doanh nghiệp không chỉ duy trì đơn hàng mà còn từng bước nâng vị thế trong chuỗi cung ứng",ông Thành chia sẻ.
Lợi nhuận của doanh nghiệp hiện không chỉ đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi mà còn từ quá trình tiết kiệm và cải tiến liên tục.
Ông Thành dẫn ví dụ cụ thể là việc đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm theo hướng giảm vật liệu. Doanh nghiệp đã cải tiến thiết kế nắp chai nhựa, giảm tới 46% trọng lượng so với trước, qua đó vừa tiết giảm chi phí nguyên liệu, vừa hạn chế rác thải nhựa ra môi trường.
Từ thực tiễn triển khai, ông Nguyễn Ngọc Thành cho rằng một chiến lược hiệu quả cần kết hợp giữa tầm nhìn dài hạn và hành động cụ thể trong ngắn hạn. Các mục tiêu lớn như trung hòa carbon cần được chia nhỏ thành các chỉ tiêu có thể đo lường theo từng giai đoạn.
Việc theo dõi liên tục và cải tiến từng bước không chỉ giúp kiểm soát chi phí đầu tư mà còn tạo ra lợi ích tích lũy, làm nền tảng cho các bước chuyển đổi sâu hơn trong tương lai.
Mô hình sản xuất xanh từ cây múa, hạt đường đến dòng điện
Ông Trần Đình Cường - Tổng Giám đốc Trung tâm sản xuất, Công ty cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS) - cho biết hiện đang quản lý hệ thống quy mô lớn gồm 10 nhà máy sản xuất mía đường, trong đó có 8 nhà máy tại Việt Nam và 2 nhà máy tại Lào, Campuchia.
Với năng lực ép khoảng 41.000 tấn mía/ngày, mỗi ngày doanh nghiệp này cung ứng cho thị trường khoảng 4.700 tấn đường.
Ông Cường nhấn mạnh điểm khác biệt của AgriS nằm ở chiến lược "sản xuất xanh". Thay vì xem bã mía, mật rỉ hay bã bùn là chất thải gây áp lực lên môi trường, doanh nghiệp đã hoạch định chúng là nguyên liệu đầu vào cho một chu kỳ sản xuất mới.

Ông Trần Đình Cường - Tổng Giám đốc Trung tâm Sản xuất, Công ty CP Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS) - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Điển hình như tại nhà máy tại Tây Ninh, ngay từ khi thành lập với công suất 10.000 tấn mía/ngày, đơn vị đã xác định bã mía là nguồn sinh khối (biomass) để phát điện. Hiện nay, toàn bộ các nhà máy trong hệ thống AgriS đều tự sản xuất điện để phục vụ nhu cầu nội bộ, phần dư thừa được hòa lưới điện quốc gia.
Đây là minh chứng rõ nét cho mô hình kinh tế tuần hoàn mà doanh nghiệp đã vận hành hiệu quả trong nhiều năm qua. AgriS đang hướng tới việc đầu tư vào các trung tâm nhiệt điện hiệu suất cao hơn khi mở rộng vùng nguyên liệu.
Với công nghệ mới, cùng một tấn bã mía, lượng điện sinh ra có thể nhiều gấp 1,5 đến 2 lần so với công nghệ hiện tại. Tuy nhiên, doanh nghiệp đang đối mặt với một "nỗi đau" về kinh tế.
Mức giá điện thương phẩm mà ngành điện lực mua lại hiện nay chỉ vào khoảng 1.850 đồng/chữ điện. Với mức giá này, nếu doanh nghiệp chủ động thu mua thêm sinh khối bên ngoài (như rơm rạ, phế phẩm nông nghiệp khác) để vận hành máy móc thì hoàn toàn không có lãi, thậm chí thua lỗ.
Cùng đó, một thực tế lãng phí khác được đại diện AgriS chỉ ra là đặc thù mùa vụ của ngành mía đường. Mỗi năm, vụ sản xuất chỉ kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Điều này đồng nghĩa với việc các hệ thống lò hơi, tuabin phát điện hiện đại mà doanh nghiệp đã trang bị có công suất lớn phải "đắp chiếu" rảnh rỗi suốt 8 tháng còn lại.
Từ thực tế này, đại diện AgriS kiến nghị Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành xem xét lại chính sách giá mua điện sinh khối. Nếu có một mức giá hợp lý, các doanh nghiệp mía đường có thể tận dụng hạ tầng sẵn có để thu mua thêm phụ phẩm nông nghiệp, duy trì phát điện quanh năm.
Việc huy động nguồn lực từ các "trung tâm nhiệt điện rảnh rỗi" này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa thiết bị mà còn đóng góp quan trọng vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi xanh của Việt Nam.
Đưa xăng E10 vào cuộc sống, không chỉ là câu chuyện môi trường
Ông Hà Quang Anh, Quyền Giám đốc Trung tâm Thích ứng biến đổi khí hậu và Trung hòa các-bon (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ NN&MT), cho rằng phát triển bền vững phải dựa trên 3 trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong đó, chuyển đổi xanh, đặc biệt là sử dụng xăng E10, được xem là một giải pháp góp phần giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông - một trong những lĩnh vực phát thải lớn hiện nay.
Theo một số nghiên cứu, xăng E10 có thể giúp giảm khoảng 5-8% lượng phát thải so với nhiên liệu hóa thạch truyền thống

Ông Hà Quang Anh, Quyền Giám đốc Trung tâm Thích ứng biến đổi khí hậu và Trung hoà các-bon, Cục Biến đổi Khí hậu - Bộ NN&MT - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Ông nhấn mạnh xăng E10 không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn mở ra cơ hội cho doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất, phân phối nhiên liệu sinh học, thậm chí tiếp cận thị trường carbon theo quy định mới.
Tuy nhiên, việc phát triển cần đi kèm với quy hoạch ổn định nguồn nguyên liệu. .Để xăng E10 được chấp nhận rộng rãi, ông cho rằng cần bảo đảm 3 yếu tố là chất lượng, giá cả và tính phù hợp.
Đặc biệt, các kết quả nghiên cứu về tác động của xăng E10 đến động cơ cần được truyền đạt rõ ràng, minh bạch đến người dân để tạo sự yên tâm. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích phù hợp và sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng để sản phẩm có thể đi vào cuộc sống.


























