
Thanh gươm báu của gia tộc được bà mẹ gìn giữ như giữ trọn lời thề trung thành với Tổ quốc - Ảnh: LINH ĐOAN
Trong buổi phúc khảo tối 23-4, Thanh gươm và bà mẹ cho thấy nỗ lực của ê kíp sáng tạo để đem đến cho khán giả màu sắc kịch cách mạng mới.
Thanh gươm và bà mẹ, nỗi niềm của những gia đình trong cuộc chiến
Thanh gươm và bà mẹ là kịch bản kịch nói hiếm hoi của nhà thơ Phan Vũ. Thêm một tác phẩm của ông được đưa lên sân khấu là thêm cơ hội để khán giả hôm nay biết được sự đa tài của ông ở một kịch bản rất sâu sắc.
Thanh gươm và bà mẹ không khai thác khói lửa, đạn bom, những trận đụng độ nảy lửa một mất một còn hay những tan hoang từ trận chiến. Vở đi vào những góc khuất, những nỗi niềm sâu kín nhưng tạo nên sự sát thương, đau đớn không kém so với những vết thương trực diện trên da thịt mỗi người.
Vở trải dài từ thời chiến đến thời bình, gói gọn trong một gia đình miền Nam. Bối cảnh xuyên suốt chỉ trong căn nhà của bà Tư bị mù. Vậy thì khán giả sẽ xem gì trong câu chuyện và không gian sân khấu dường như nhỏ hẹp đó?
Trong căn nhà nhỏ nép mình cạnh đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng bỗng xáo trộn khi người cha Trần Trung Chánh (Quốc Thịnh) trở về sau 20 năm biền biệt theo cách mạng.
Cuộc đoàn tụ bất ngờ khiến bà Tư, vợ ông (Việt Hà đóng), mừng mừng tủi tủi vì bà đã mòn mỏi trông ngóng chồng mấy chục năm. Thế nhưng chưa kịp vui sướng bà đã thấp thỏm lo âu, không biết gia đình sum vầy hay tan nát vì cậu con trai độc nhất của họ, Trần Trung Hiếu (Hoàng Tấn), lại đi lạc về phía bên kia.
Từ "ví dụ" về gia đình bà Tư mà vở phơi bày nỗi niềm của mỗi người. Ở phía nào cũng có lý do và góc nhìn riêng.

Diễn viên trẻ Hoàng Phi (phải, vai trung tá Vĩnh Hường) lần đầu tiên được tham gia kịch cách mạng với vai phản diện đã chinh phục được nhiều người trong buổi phúc khảo tối 23-4
Lời thề gia tộc, lời thề với đất nước
Vở Thanh gươm và bà mẹ không có sự góp mặt của những nghệ sĩ kỳ cựu mà trao toàn bộ cơ hội cho các diễn viên trẻ. Vì vậy đây không chỉ là vở diễn "đinh" trong những ngày tháng 4 lịch sử của nhà hát kịch mà còn là thử thách cho diễn viên trẻ của nhà hát được cọ xát, rèn luyện với kịch bản hay, với thể loại kịch cách mạng.
Vở rất ít diễn viên, vai chính chỉ có bốn người là ông bà Tư, Hiếu và trung tá Vĩnh Hường (Hoàng Phi). Vì vậy, vở đòi hỏi nội lực của diễn viên rất lớn. Kịch tính của vở nằm ở sự tranh luận của các nhân vật.
Người cách mạng và người bên kia không đối đầu bằng súng ống mà bằng những lý lẽ đanh thép để từ đó làm rõ lý tưởng. Phản bội và không phản bội, phản bội ai? trung thành với ai?
Cuộc chiến có phá vỡ ý nghĩa gia đình khi cha con, chồng vợ có thể đối đầu nhau, phân rẽ?

Người mẹ rối bời khi phải đứng giữa chồng và con

Người cha (Quốc Thịnh) trao thanh gươm cho con trai (Hoàng Tấn) như muốn con biết đường quay về, biết trân trọng lời thề trung nghĩa của gia tộc với Tổ quốc
Mỗi nhân vật đều có lý do để bảo vệ quan điểm của mình. Có những suy nghĩ lệch lạc nhưng nếu xét kỹ thì cũng rất khó minh định trong thời cuộc nhiều biến động. Vì vậy không có nhân vật nào một chiều, nên "bên mình" hay bên kia gì cũng khiến người xem phải suy ngẫm.
Để rồi đích đến là độc lập, hòa bình cho dân tộc lại chính là ánh sáng để soi tỏ đường đi của mỗi con người. Như ông Trần Trung Chánh vẫn kiên trung với thanh gươm quý có khắc chữ "bất khuất" của gia tộc.
Có lẽ tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc, tình yêu với chính gia đình nhỏ bé của mình là lý do mạnh mẽ nhất để bao người tự nguyện xả thân, hy sinh gìn giữ cho hòa bình hôm nay.
Thanh gươm và bà mẹ là những cuộc đối thoại không dứt nên vở cực kỳ "làm khó" diễn viên vì thoại không chỉ dài, dày đặc mà có triết lý sâu xa không dễ nhớ. Vì vậy vở đòi hỏi diễn viên phải thuộc thoại thật kỹ, thấm từng câu, từng từ để biết cách nhấn nhá có thể đọng lại trong lòng người xem.
Với kịch bản này, đạo diễn Trần Ngọc Giàu đã từng dựng cho đoàn cải lương Tây Đô năm ngoái. Thiết kế mỹ thuật cũng là họa sĩ Doãn Bằng. Vì vậy sẽ không tránh khỏi bị "soi" nếu ai đã từng xem bản cải lương.
Tuy nhiên, bản kịch đã đem đến màu sắc khác. Nếu cải lương có thể dùng bài ca để chuyển tải nỗi niềm của nhân vật thì ở bản kịch đạo diễn đã đẩy mạnh tiết tấu, có những xử lý như hồi tưởng, giấc mơ... để đem lại màu sắc mới cho vở.
Cũng là không gian xuyên suốt của ngôi nhà, nếu bản cải lương cảnh trí tĩnh thì bản kịch đạo diễn cho cảnh trí "chuyển động". Không có hậu đài chuyển cảnh, diễn viên tự xoay trở với cảnh trí có hai mặt, lúc là không gian bên trong ngôi nhà, lúc là khu vườn, ngoài hiên...
Biên độ sân khấu cũng mở rộng khi khán giả không chỉ xem vở kịch trên sàn diễn mà còn được đưa ra tận sảnh ngoài với cái kết mang đậm không khí hân hoan, đoàn tụ, sum vầy.


























