Cả nước có khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh, mang lại sinh kế cho hơn 8 triệu lao động. Trong nhiều thời điểm, họ chính là "tấm đệm" an sinh an toàn hấp thụ các cú sốc của nền kinh tế.
Theo tờ trình của Bộ Tài chính về đề xuất xây dựng dự án Luật Quản lý thuế năm 2025, cả nước có khoảng 3,6 triệu hộ kinh doanh đang được quản lý thuế, trong đó 1,8 triệu hộ có doanh thu năm dưới 500 triệu đồng; khoảng 37.000 hộ doanh thu trên một tỷ, và hơn 4.000 hộ vượt mốc 10 tỷ đồng.
Với doanh thu 500 triệu đến một tỷ đồng, giả định tỷ suất lợi nhuận biên khoảng 10%, lợi nhuận của hộ kinh doanh chỉ vào khoảng 50-100 triệu đồng mỗi năm, tương đương 4-8 triệu đồng mỗi tháng.
Doanh thu hai tỷ, lợi nhuận cũng chỉ bình quân 200 triệu mỗi năm, hay 16 triệu mỗi tháng. Nếu hộ có 1,68 lao động (con số trung bình), thu nhập mỗi tháng của một người sẽ chỉ trên dưới 10 triệu đồng, thấp hơn ngưỡng thu nhập không phải nộp thuế TNCN.
Thu nhập thấp như vậy nhưng họ phải đóng thuế doanh thu. Sau nhiều cân nhắc, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến, sửa quy định về ngưỡng miễn thuế với hộ kinh doanh lên một tỷ đồng một năm, gấp đôi mức hiện hành.
Dù ngưỡng này được thông qua, cuộc tranh luận chắc chắn sẽ không dừng lại. Giữ nguyên 500 triệu đồng, tranh luận vẫn tiếp tục. Đưa lên mức 2 tỷ hay 5 tỷ, tranh luận thậm chí còn gay gắt hơn.
Ngưỡng một tỷ có thể hợp lý trong ngành ăn uống, giải khát, dịch vụ, thương mại - nơi lợi nhuận biên có thể đạt 20%-25%, nhưng lại không công bằng với khu vực tạp hóa, bán lẻ vốn chật vật với mức lợi nhuận biên mỏng như tờ giấy 5%-8%. Ngưỡng một tỷ có thể hợp lý với hộ có một lao động, đồng thời là chủ hộ, nhưng lại bất hợp lý với hộ sử dụng 5-6 lao động; có thể phù hợp với khu vực nông thôn, ngoại thành nhưng lại chưa hợp lý với các hộ ở đô thị - nơi chi phí sinh hoạt, chi phí đầu vào cao hơn rất nhiều.
Chưa kể ngưỡng thuế này sẽ sớm bị xói mòn dưới tác động của lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng và sẽ trở nên lạc hậu sau một vài năm. Khi đó, cuộc tranh luận sẽ bắt đầu trở lại.
Đưa lên một tỷ, rồi hai tỷ hoặc cao hơn, hiệu ứng phụ của chính sách sẽ là các hộ kinh doanh cứ mãi muốn là hộ kinh doanh. Gần đạt ngưỡng, họ sẽ tìm cách tách hộ để hưởng ưu đãi.
Rồi còn các doanh nghiệp, công ty siêu nhỏ đã đăng ký theo Luật nhưng doanh thu chỉ 1-3 tỷ. Bị hấp dẫn bởi quy định miễn thuế áp dụng với hộ kinh doanh, điều gì có thể đảm bảo rằng họ không tìm cách quay lại hình thức hộ kinh doanh, tách thành 2-3 hộ để hưởng ưu đãi và tránh được chi phí tuân thủ - vốn là điều đau đầu nhất với tất cả doanh nghiệp hiện nay?
Trong trường hợp họ vẫn chọn ở lại khu vực chính thức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thì ngưỡng miễn thuế áp dụng cho hộ kinh doanh càng cao, càng tạo ra sự bất bình đẳng với doanh nghiệp siêu nhỏ.
Tranh luận về ngưỡng thuế doanh thu áp dụng với hộ kinh doanh, vì thế, dường như là cuộc tranh luận tìm giải pháp cho phần ngọn, cho hiện tượng, cho triệu chứng chứ chưa phải để tìm cách giải quyết gốc rễ, tháo gỡ những khó khăn của hộ kinh doanh và hỗ trợ sự phát triển bền vững của khu vực này.
Chủ đề thảo luận đầu tiên và tiên quyết đáng lẽ phải là địa vị pháp lý nào cho hộ kinh doanh, từ đó làm cơ sở xác định loại thuế phù hợp: thuế doanh thu hay thuế thu nhập cá nhân.
Năm 2024, với sự hỗ trợ của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), chúng tôi đã hoàn thành một nghiên cứu về địa vị pháp lý cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
Hộ kinh doanh - với tên gọi, cách hiểu và ý nghĩa như ở Việt Nam - là một sản phẩm đặc thù, gần như không thể tìm thấy ở bất kỳ nền kinh tế nào. Doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) hoặc doanh nhân cá thể (sole trader) ở các quốc gia khác được coi là mô hình tương đồng trên một số đặc điểm: do một cá nhân làm chủ; việc thành lập tương đối đơn giản; chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh; và lợi nhuận được tính vào thu nhập chịu thuế của chủ sở hữu.
Số liệu khảo sát của chúng tôi cho thấy, năm 2021, trung bình một hộ kinh doanh chỉ có 1,68 lao động, bình quân 19,5 người dân có một hộ kinh doanh. Nói cách khác cứ khoảng 19 người dân Việt Nam thì có một người khởi nghiệp và kiếm sống bằng hình thức hộ kinh doanh.
Hộ kinh doanh về bản chất là kinh doanh cá thể và cá nhân kinh doanh. Họ thuộc đối tượng tự tạo ra việc làm (self-employed). Vì vậy, sắc thuế chính nên áp dụng với họ là thuế thu nhập cá nhân, chứ không phải thuế doanh thu như hiện nay.
Khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh, cụ thể là với các chủ hộ, có thể sử dụng ngay các quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân mới nhất, áp dụng từ kỳ tính thuế 2026 với ngưỡng thu nhập không phải nộp thuế đã được nâng lên ở mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp là 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm.
Khi đó, một chủ hộ kinh doanh cũng sẽ phải nộp thuế nếu như thu nhập hay lợi nhuận, tức là doanh thu trừ chi phí bao gồm cả chi phí thuê lao động, bắt đầu vượt 15,5 triệu đồng/tháng hay 186 triệu đồng/năm.
Để đạt mức này, có hộ cần doanh thu một tỷ nhưng cũng có hộ cần tới doanh thu 2-3 tỷ, tùy ngành nghề hay địa bàn hoạt động. Điều quan trọng là việc đánh thuế sẽ công bằng hơn, đúng bản chất hơn, và ít gây tranh cãi hơn. Việc áp dụng chỉ cần tham chiếu đến Luật Thuế TNCN, hoặc Luật Thuế TNCN sẽ bổ sung thêm điều khoản ngưỡng thu nhập không phải nộp thuế áp dụng với chủ hộ kinh doanh.
Chủ hộ kinh doanh cũng được hưởng các quy định về giảm trừ gia cảnh, các chi phí hợp lý hợp lệ. Điều đó sẽ nâng cao tính nhân văn, công bằng của sắc thuế.
Các hộ lớn, quy mô doanh thu trên 10 tỷ, sẽ bắt buộc phải đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.
Nhưng chưa đến mức bắt buộc, chỉ cần áp dụng đúng, chặt chẽ Luật Thuế TNCN, các chủ hộ có doanh thu lớn và thu nhập cao sẽ phải chịu mức thuế luỹ tiến ở những bậc cao nhất của biểu thuế thu nhập cá nhân. Khi đó dưới bàn tay của thị trường, họ sẽ tự động tìm cách đăng ký theo hình thức Luật Doanh nghiệp, trở thành doanh nghiệp siêu nhỏ, để được hưởng khấu trừ chi phí đầu ra, đầu vào một cách dễ dàng, và cũng được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 20%; thay vì đóng thuế thu nhập cá nhân theo mức lũy tiến ở các bậc cao nhất 25% hay 35% như hiện nay.
Cơ chế thị trường và công cụ thuế này sẽ điều chỉnh hành vi của hộ kinh doanh lớn, giúp họ tự quyết định trưởng thành.
Giải pháp căn cơ và ưu tiên nhất hiện nay là cần tách bạch khung khổ pháp lý dành cho cá nhân kinh doanh và các hình thức kinh doanh cá thể, theo hướng xây dựng một luật mới dành cho nhóm đối tượng là doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Khi đó, toàn bộ quy định về doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp hiện hành sẽ được chuyển sang luật mới và được điều chỉnh cho phù hợp. Có thể xem xét đặt tên luật này là "Luật Kinh doanh cá thể".
Hệ thống luật pháp của Việt Nam về kinh doanh sẽ gồm hai bộ luật riêng là Luật Doanh nghiệp dành cho pháp nhân kinh doanh và Luật Kinh doanh cá thể dành cho thể nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh có thể được gọi tên là doanh nghiệp cá thể.
Việc xác lập địa vị pháp lý cho hình thức kinh doanh cá thể và hộ kinh doanh phải là bước tiên quyết cho các cải cách khác về thuế và các quy định khác liên quan.
Các quy định về thuế áp dụng với hộ kinh doanh cá thể khi đó sẽ được cải cách theo nguyên tắc đơn giản, dễ dàng, chi phí tuân thủ thấp, phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh, tương tự các doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp một chủ tại các nền kinh tế phát triển khác.
Khi đó, chúng ta sẽ đỡ phải sa đà vào cuộc tranh luận không hồi kết về ngưỡng miễn thuế như hiện nay.
Lê Duy Bình


























