Trong nhận thức phổ biến, có rất nhiều người nghĩ là con thì chắc chắn được chia đất của bố mẹ; hay con đẻ, con nuôi hợp pháp đương nhiên được hưởng di sản khi cha mẹ qua đời.
Tuy nhiên, qua nhiều năm tham gia giải quyết tranh chấp thừa kế, luật sư Trịnh Văn Dũng (Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết, không phải trong mọi trường hợp con đều có quyền hưởng thừa kế từ cha mẹ.
Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rõ những trường hợp người con có thể bị loại trừ, bị truất quyền hoặc không đủ điều kiện hưởng di sản, dù vẫn tồn tại quan hệ cha mẹ - con về mặt huyết thống hoặc nuôi dưỡng.

Người phụ nữ ở Sơn La dẫn theo con trai để có thể hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn với người chồng thứ 2 (Ảnh minh hoạ: Sơn Nguyễn).
"Thực tiễn cho thấy, rất nhiều vụ việc phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng giữa các thành viên trong gia đình chỉ vì hiểu sai quy định pháp luật về quyền thừa kế. Không ít trường hợp người con khởi kiện yêu cầu chia di sản nhưng bị tòa án bác toàn bộ yêu cầu do thuộc diện không được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật", luật sư nói.
Những trường hợp con không được hưởng thừa kế từ cha mẹ
Thừa kế nhà đất là việc chuyển dịch quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nhà ở, công trình xây dựng…) từ người đã chết sang cho người còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Như vậy, theo luật sư quyền thừa kế không chỉ phát sinh từ quan hệ huyết thống mà phải được xác lập phù hợp với ý chí của người để lại di sản và các điều kiện luật định.
Về cơ sở pháp lý xác lập quyền thừa kế của con, luật sư cho biết trong thừa kế theo pháp luật, con đẻ, con nuôi hợp pháp của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015). Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc mọi người con đều chắc chắn được hưởng di sản.
Quyền hưởng thừa kế của con có thể bị loại trừ trong nhiều trường hợp, bao gồm không đủ điều kiện là người thừa kế, bị truất quyền thừa kế, từ chối nhận di sản, hoặc thuộc nhóm người không có quyền hưởng di sản theo luật định.
Đây chính là cơ sở pháp lý dẫn đến những trường hợp con không được hưởng thừa kế từ cha mẹ.
Trường hợp thứ nhất: Con không còn sống tại thời điểm mở thừa kế (Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết. Đây là mốc thời gian quan trọng để xác định ai là người thừa kế, khối di sản để lại, quyền và nghĩa vụ của những người liên quan.
Điều kiện con được xác định là người thừa kế theo Điều 613 Bộ luật dân sự 2015 quy định, người thừa kế là cá nhân phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Theo đó, người con sẽ không được hưởng thừa kế trong các trường hợp chết trước cha hoặc mẹ, chết cùng thời điểm với cha mẹ mà không xác định được ai chết trước, hoặc con chưa được hình thành hợp pháp (chưa thành thai) tại thời điểm người để lại di sản chết.
Luật sư lưu ý, trong trường hợp con chết trước cha mẹ nhưng cháu (con của người con đã chết) còn sống, thì cháu có thể được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, bản thân người con đã chết vẫn không được hưởng di sản.
Trường hợp 2: Con thuộc nhóm người không có quyền hưởng di sản (Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo luật sư, đây là nhóm trường hợp thường gây tranh cãi nhất trong thực tiễn xét xử tranh chấp thừa kế.
Theo Điều 621, người thừa kế (bao gồm cả con) không được hưởng di sản nếu cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ cha mẹ.
Người con vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ; Cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần di sản; Lừa dối, cưỡng ép, giả mạo di chúc; sửa chữa, hủy, che giấu di chúc để hưởng di sản trái ý chí của người để lại di sản cũng không được hưởng di sản.
Trường hợp 3: Con không có tên trong di chúc của cha mẹ.
Theo luật sư, di chúc là sự thể hiện ý chí tối cao của người để lại di sản. Di chúc hợp pháp là căn cứ ưu tiên hàng đầu để phân chia di sản. Nếu cha mẹ lập di chúc hợp pháp và không chỉ định con là người thừa kế, thì về nguyên tắc, người con đó không được hưởng di sản.
Tuy nhiên, theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, một số đối tượng vẫn được hưởng di sản dù không được chỉ định trong di chúc, bao gồm con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
"Những người này được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, trừ khi họ từ chối nhận di sản hoặc thuộc trường hợp bị tước quyền hưởng di sản", luật sư chỉ rõ.
Trường hợp thứ 4: Con bị cha mẹ truất quyền thừa kế (Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo luật sư Dũng, truất quyền thừa kế là việc người lập di chúc chủ động loại bỏ quyền hưởng di sản của một hoặc một số người thừa kế theo pháp luật, trong đó có con cái.
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; dành tài sản cho việc thờ cúng, di tặng.
"Nếu trong di chúc hợp pháp, cha mẹ ghi rõ truất quyền thừa kế của con, thì người con đó sẽ không được hưởng di sản, trừ trường hợp thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc", luật sư phân tích.
Trường hợp thứ 5: Con từ chối nhận di sản thừa kế.
Theo luật sư, pháp luật không bắt buộc người thừa kế phải nhận di sản. Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép người thừa kế từ chối nhận di sản, trừ trường hợp nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản.
Việc từ chối nhận di sản phải đáp ứng các điều kiện như lập thành văn bản; Thể hiện rõ ý chí tự nguyện; Gửi cho những người thừa kế khác hoặc người quản lý di sản trước thời điểm phân chia di sản.
"Khi việc từ chối hợp pháp, người con không còn quyền và nghĩa vụ liên quan đến phần di sản đó", luật sư nêu.
Trường hợp thứ 6: Con có hành vi bạo hành, ngược đãi cha mẹ nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong nhiều trường hợp, con có hành vi ngược đãi, hành hạ cha mẹ nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa con vẫn đương nhiên được hưởng thừa kế.
Nếu có căn cứ xác định hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cha mẹ thì tòa án có thể tước quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, hoặc căn cứ vào việc cha mẹ đã truất quyền thừa kế trong di chúc.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và thực tiễn áp dụng đến năm 2026, con sẽ không được hưởng thừa kế từ cha mẹ trong các trường hợp không còn sống tại thời điểm mở thừa kế; Thuộc nhóm người không có quyền hưởng di sản; Không có tên trong di chúc hợp pháp; Bị cha mẹ truất quyền thừa kế; Từ chối nhận di sản hợp pháp.
Người con có hành vi gian lận, cưỡng ép, giả mạo di chúc, ngược đãi, bạo hành cha mẹ ở mức độ nghiêm trọng cũng không được hưởng thừa kế.
Trực tiếp tham gia giải quyết nhiều vụ việc liên quan đến thừa kế, luật sư cho biết, câu hỏi ông nhận được nhiều nhất đó là, con đẻ có đương nhiên được hưởng thừa kế từ cha mẹ không?, hay cha mẹ có quyền truất quyền thừa kế của con không?.
Luật sư dẫn chứng, theo Bộ luật Dân sự 2015, người con chỉ được hưởng thừa kế nếu đủ điều kiện là người thừa kế và không thuộc các trường hợp bị loại trừ, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.
"Trong nhiều trường hợp, dù là con ruột, người con vẫn không được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật", luật sư nêu.
Bên cạnh đó, theo luật sư, cha mẹ có toàn quyền truất quyền thừa kế của con trong di chúc hợp pháp. Khi đó, người con sẽ không được hưởng di sản, trừ trường hợp thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.


























