Chúng tôi tìm đến nhà của bà Lại Thị Kim Túy trong những ngày cuối tháng Tư này. Bà là cựu chiến sĩ biệt động Phân khu 2 thuộc Biệt động vùng 3 cánh Tây Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn.
Đón chúng tôi là người phụ nữ gần 80 tuổi, mặc chiếc áo bà ba đậm chất Nam Bộ với nụ cười hiền nhưng giọng nói rắn rỏi. Trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, gia đình bà có tới 6 liệt sĩ. Đó là cha, 3 anh trai, người em gái út và chồng của bà.
Mất 6 người nhà trong 10 năm
Bà Lại Thị Kim Túy (78 tuổi) sinh ra ở xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa (tỉnh Long An cũ) trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Cha bà tham gia kháng chiến từ sớm. Các anh trai lớn lên cũng theo cách mạng, một đi không hẹn ngày về.
Nhưng điều thôi thúc cô bé 13 tuổi bước vào con đường ấy không phải vì những lời kêu gọi, mà từ 2 cảnh tượng không thể xóa khỏi ký ức suốt hơn 60 năm qua.
Lần đầu, bà chứng kiến địch bắt một cán bộ, bắn gãy chân, bỏ lên võng tre khiêng qua cánh đồng giữa ban ngày. Bà sợ đến bật khóc, không dám đi học tiếp. Lần thứ hai, địch bắt khoảng một chục thanh niên trong làng, sắp hàng trên bờ ruộng rồi xả súng.
"Những cảnh tượng đó làm cho tôi không thể ngồi yên" - bà nói, giọng bình thản nhưng ánh mắt xa xăm.
Năm 14 tuổi, bà gia nhập Đoàn Thanh niên. Năm 17 tuổi, bà tham gia những trận đánh đầu tiên rồi được kết nạp Đảng. Công việc ban đầu của bà mới chỉ là đắp mô trên đường, tải đạn, tải thuốc nổ, vận động thanh niên tránh quân dịch... Nhưng chính những việc tưởng như bình thường đó đã nuôi dưỡng trong bà ý chí của một người lính thực thụ.
Khi địch lập ấp chiến lược, căn cứ bị phá, bà Túy cùng đồng đội phải lánh sang địa bàn khác. Từ đó, bà mất liên lạc với gia đình. Bà không biết rằng lần ra đi ấy là lần cuối bà được nhìn mặt đủ 6 người thân.
Ngày 19/7/1962, anh trai bà ngã xuống tại huyện Đức Hòa. Gương mặt anh bị đạn bắn nát, thi thể đưa về đã bị phân hủy. Nỗi đau chưa kịp lành thì đêm 3/5/1968, cha bà là ông Lại Bá Y hy sinh vì trúng đạn pháo khi đang đi công tác.
"Tôi và mẹ khóc cạn nước mắt, rồi chỉ 5 tiếng sau thì nghe tin em gái út mới 17 tuổi cũng hy sinh trên đường về chiến khu" - bà Túy nghẹn ngào.
Tới ngày 6/8/1968, chồng bà là ông Phạm Văn Mại, Bí thư Đảng ủy xã bị địch bắn chết, vào đúng kỷ niệm 2 năm ngày cưới.
Tháng 12/1969, thêm một người anh của bà ra đi. Bị thương không chạy thoát, anh bị địch trói hai chân vào xe bò kéo lê về căn cứ cho đến chết. Ba năm sau, người anh cuối cùng cũng hy sinh.
Kể đến đây, bà khóc. Những câu nói cứ bị ngắt giữa chừng, như vết thương cũ mỗi lần chạm vào vẫn còn buốt.


Chỉ trong vòng 10 năm, chiến tranh đã cướp đi 6 người thân - 6 tấm di ảnh trên bàn thờ, mà bà Túy không thể về thắp lấy một nén nhang.
"Nhưng ngọn lửa trong tôi không hề tắt mà càng bùng lên. Tôi tự nhủ phải hy sinh tất cả cho đến ngày hòa bình, có như vậy mới phần nào trả được món nợ với những người đã nằm xuống".
Mẹ lập bàn thờ dù con vẫn còn sống
Từ tháng 7/1967, trong đơn vị 44 người thuộc Biệt động Sài Gòn vùng 3 cánh Tây Nam, bà Túy là người phụ nữ duy nhất.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiều 29 Tết, đơn vị nhận lệnh xuất kích, hành quân cùng Sư đoàn 9, qua Vĩnh Lộc, băng qua xa lộ Đại Hàn rồi rẽ về Phú Thọ Hòa - nay thuộc quận Bình Tân cũ. Nhiệm vụ được giao là "diệt ác, phá kìm", xây dựng chính quyền cách mạng ngay khi lực lượng chủ lực đánh qua.
Trước sự tấn công dồn dập của các chiến sĩ cách mạng, giặc đã phải bỏ địa bàn rút ra ngoài. Trong trận này, đơn vị của bà Kim Túy đã bắn cháy 3 xe tăng M-113 và bắn rơi 1 trực thăng địch.
Tới ngày 13 tháng Giêng, địch tổ chức phản công với số lượng đông gấp bội cùng sự yểm trợ của pháo binh, không quân, thiết giáp.
"Khi địch ập vào, không ai bảo ai, chúng tôi nắm chặt tay nhau. Tiếng hô vang lên giữa khói đạn: 'Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh! Thà chết chứ không chịu làm nô lệ! Nhất định không để một đồng chí nào lọt vào tay giặc!’. Lúc đó, không ai nghĩ đến cái chết, chỉ biết rằng tay người bên cạnh vẫn còn ấm trong tay mình" - bà Túy run run nhớ lại.
Đến 11h trưa hôm đó, 38 trong số 44 đồng đội của bà đã anh dũng hy sinh, đa số ở độ tuổi 18 đến 20. Súng vẫn còn nhưng đạn đã cạn, nguồn tiếp tế từ phía ngoài bị chặn hoàn toàn.
"Nghĩ lại khoảnh khắc đó, lòng tôi đau như cắt. Nhìn đồng đội mình hy sinh mà bất lực" - bà Túy không còn giữ được bình tĩnh, giọng lạc đi.
Đơn vị chỉ còn 6 người gồm bà Túy, 1 chỉ huy, 1 chính trị viên và 3 chiến sĩ. Bà cùng 5 đồng đội được người dân địa phương che chở dẫn ra ngoài, trà trộn vào dòng người, vượt qua chốt kiểm soát của địch để trở về căn cứ.
"Anh chính trị viên cởi bỏ quân phục, còn mỗi chiếc quần đùi, tôi thì mặc bộ bà ba. Khi lính địch chặn lại hỏi giấy tờ, tôi đáp 'Chiến tranh như vậy còn giấy tờ gì nữa mà hỏi?' rồi bước thẳng, không ngoái đầu" - bà kể.
Sau khi địch rút, bà được lệnh quay lại trận địa, chứng kiến thi hài sau vài ngày dưới nắng của 38 đồng đội đã hy sinh mà không thể chôn cất chu đáo.
"Cảnh tượng đó tôi sẽ không bao giờ quên và coi như một món nợ ân tình phải trả..., mà trả cũng không hết nổi".
Trong những đồng đội thoát ra khỏi trận giặc càn hôm đó có một người chạy ngang nhà bà và bị mẹ bà giữ lại, hỏi về tung tích con gái. Người này trong lúc còn hốt hoảng đã nói một câu cắt đứt hy vọng: "Sáu Túy nó chết rồi".
Mẹ bà đau khổ khôn nguôi, không còn chờ đợi nữa, lặng lẽ lập bàn thờ cho con.
"Bốn tháng sau, tôi trở về quê thăm mẹ. Vừa tới ngõ thì hàng xóm reo lên 'Sáu Túy về! Sáu Túy về!'. Mẹ tôi chạy ra, nhìn con như nhìn người từ cõi khác trở về, hỏi không thành câu: 'Con vẫn còn sống hả?'. Hai mẹ con ôm nhau, khóc nức nở" - bà kể lại mà ánh mắt đượm buồn vì thương mẹ sống cảnh đơn độc bao năm ròng.
Món nợ "không thể trả hết"
Sau chiến dịch Mậu Thân, bà Túy được điều về học Trường Quân chính sơ cấp Quân giải phóng Miền Nam. Được một năm, bà trở lại chiến trường để tiếp tục xây dựng cơ sở, vận chuyển vũ khí, làm giao liên trong lòng địch.
Năm 1974, bà gia nhập Lữ đoàn 316 Đặc công Biệt động, chuẩn bị tiến về giải phóng Sài Gòn.
Ngày 30/4/1975, đơn vị bà từ Dầu Tiếng xuyên qua Củ Chi, Hóc Môn tiến về trung tâm. Trên đường hành quân, bà chứng kiến người dân đứng hai bên đường vẫy chào, còn lính ngụy lột bỏ quân phục chạy tán loạn.
"Khi hay tin chiến thắng, cả đơn vị như được tiếp thêm sức mạnh. Đang trên đường vào trung tâm Sài Gòn thì tôi bị một mảnh đạn găm vào chân. Chỉ huy bảo lui về phía sau, tôi lắc đầu. Đau thì đau nhưng chân tôi vẫn bước".
Càng vào sâu, tiếng người dân reo hò càng vang.
"Lúc đó, tôi không còn cảm giác mệt, không còn cảm giác đau, chỉ muốn chạy thật nhanh, chạy để được tận mắt nhìn thấy điều mà bao nhiêu người đã không thể sống đến ngày hôm đó để chứng kiến".
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Túy chuyển sang công tác tại Sở Nông nghiệp TPHCM. Ngoài công việc, bà còn dành nhiều tâm sức để "trả món nợ ân tình".
Trong số những đồng đội đã nằm xuống, có một người khiến bà day dứt mãi không nguôi.
Đó là cậu thanh niên 17 tuổi xin đi theo với một câu nói khiến bà không thể từ chối: "Hai anh của em hy sinh rồi, em muốn đi trả thù cho anh, cho nhân dân". Bà gật đầu... Nhưng 7 ngày sau, cậu hy sinh.
Sau giải phóng, bà đi tìm mẹ của người đồng đội ấy khắp nơi. Phải tới năm 1995, qua thông tin của đồng đội, bà Túy biết người mẹ đó đang ở Tây Ninh với con gái. Khi tìm được, bà cụ đang nằm liệt vì tai biến. Không một chút do dự, bà Túy đưa cụ vào bệnh viện, lo chạy chữa suốt 3 tháng.
Rồi bà Túy đón cả gia đình người con gái với 2 cháu ngoại của cụ mang di chứng chất độc da cam về chăm sóc tại nhà mình. Bà lo từ việc nhập hộ khẩu đến từng đồng viện phí.
"Thời điểm đó, bạn bè lắc đầu, bảo tôi tự rước khổ vào thân. Tôi chỉ bảo nếu thương tôi thì đừng nói vậy. Tôi làm vì tình, mà tình đó lớn lắm".
Năm năm sau, mẹ người liệt sĩ 17 tuổi mất trong vòng tay đồng đội của con mình.
Hàng năm, vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch, bà cùng chính quyền địa phương tổ chức lễ giỗ tập thể cho 38 người đã hy sinh năm xưa - những liệt sĩ đến nay vẫn còn nằm dưới lòng đất Phú Thọ Hòa.
Vẫn nhớ như in từng lát cắt lịch sử sau 51 năm ngày thống nhất đất nước, bà Túy cười hiền: "Tất cả như một giấc mơ dài. Thỉnh thoảng vào ban ngày, đi qua chỗ nào có kỷ niệm là đêm đó tôi nằm mơ thấy lại những trận đánh, thấy đồng đội đổ xuống xung quanh. Thế nên, tôi muốn trả ơn cuộc đời vì tôi được sống, trả ơn những chiến sĩ đã hy sinh vì hòa bình, độc lập dân tộc...".


























