Lo lắng là phản ứng cảm xúc bình thường của cơ thể trước căng thẳng, khi não bộ phát tín hiệu cảnh báo về những tình huống có thể gây nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu cảm giác này kéo dài, kèm sợ hãi và bồn chồn quá mức có thể là dấu hiệu của rối loạn lo âu. Đây là vấn đề sức khỏe tâm thần có thể ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt, công việc và chất lượng cuộc sống.
Rối loạn lo âu được chia làm nhiều loại như rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, ám ảnh sợ xã hội... Triệu chứng phổ biến như hoảng loạn, bất an, khó ngủ, mệt mỏi, không thể giữ bình tĩnh, khó đứng yên, tay hoặc chân lạnh, đổ mồ hôi, tê hoặc ngứa ran. Người bệnh cũng có thể hụt hơi, thở nhanh và mạnh hơn bình thường, tim đập nhanh, run rẩy, khô miệng, chóng mặt, không có khả năng tập trung... Dưới đây là một số yếu tố làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu.
Yếu tố di truyền: Rối loạn lo âu có thể di truyền trong gia đình do sự kết hợp phức tạp của nhiều nhóm gene khác nhau. Nhiều trường hợp trẻ mang gene này nhưng không bộc phát bệnh.
Căng thẳng: Người lớn thường xuyên stress kéo dài, sang chấn tâm lý, chịu áp lực công việc cao, thiếu ngủ, có thể dẫn đến các rối loạn dẫn truyền serotonin, mất cân bằng hệ thần kinh, từ đó thúc đẩy rối loạn lo âu phát triển.
Nghiện rượu bia: Uống nhiều rượu bia có thể phá vỡ cân bằng hóa học não bộ (GABA, serotonin), là yếu tố thường gặp gây ra các vấn đề tâm thần, trong đó có rối loạn lo âu. Rượu còn làm suy giảm chức năng nhận thức và dẫn đến hành vi nguy hiểm.
Các bệnh lý về thể chất: Một số bệnh về tim, phổi và tuyến giáp có thể gây ra các triệu chứng tương tự rối loạn lo âu hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng này. Hội chứng ruột kích thích, các bệnh về hô hấp, khối u, tạo ra một số thay đổi hormone trong cơ thể, có thể liên quan đến chứng lo âu. Bên cạnh đó, sử dụng một số loại thuốc điều trị ảnh hưởng đến nội tiết tố, gây căng thẳng, không tốt cho não bộ.
Anh Chi (Theo WebMD)


























