Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 26/4 tuyên bố lệnh phong tỏa cảng biển kéo dài của Mỹ đã khiến Iran không thể xuất khẩu lượng lớn dầu thô được khai thác mỗi ngày. "Khi trữ lượng dầu khổng lồ bị dồn nén trong hệ thống, áp suất sẽ khiến đường ống phát nổ từ bên trong, thậm chí nổ tung từ dưới lòng đất. Một khi điều đó xảy ra, Iran sẽ không bao giờ có thể khôi phục lại hạ tầng như cũ", ông Trump nói.
Iran chưa bình luận về tuyên bố này, nhưng ảnh vệ tinh và dữ liệu được công ty phân tích năng lượng Kpler công bố ngày 27/4 cho thấy ngành dầu mỏ Iran đang đối mặt với thách thức chưa từng có, khi lệnh phong tỏa cảng biển của Mỹ từ ngày 13/4 tiếp tục bóp nghẹt hoạt động xuất khẩu, khiến dầu thô tích trữ trong kho chứa ngày một đầy hơn.
Hệ thống lưu trữ dầu của Iran được chia thành các bể chứa trên đất liền và kho nổi trên biển. Trên đất liền, tổng công suất ước tính khoảng 90-95 triệu thùng. Tính đến cuối tháng 4, lượng dầu tồn kho của Iran là khoảng 49 triệu thùng, có nghĩa nước này chỉ còn không gian để chứa thêm khoảng 41 triệu thùng.
Kpler cho rằng con số này nhiều khả năng cũng đã phóng đại đáng kể năng lực thực sự mà Iran có thể lưu trữ dầu, bởi một số cơ sở chỉ được dùng cho các loại dầu khí nhất định hoặc không thể tiếp cận.
Các kho chứa ở Sirri và Lavan không thể dùng để chứa dầu thô trên đất liền, còn cơ sở ở Assaluyeh chuyên dùng để lưu trữ dầu ngưng từ mỏ South Pars. Các khu vực thuộc khu phức hợp Bandar Abbas cũng bị hạn chế tương tự.

Một đơn vị thuộc mỏ khí đốt South Pars tại cảng biển Assaluyeh của Iran ở phía bắc vịnh Ba Tư năm 2015. Ảnh: Reuters
Khi tính đến những hạn chế này, năng lực lưu trữ tương đương 14,9 triệu thùng trên thực tế không thể sử dụng được. Điều này làm giảm khả năng lưu trữ trên đất liền của Iran xuống còn khoảng 26 triệu thùng, tương đương 14 ngày sản xuất và xuất khẩu ở mức độ hiện tại.
Theo Firstpost, Iran còn có khả năng lưu trữ ngắn hạn dầu mỏ trên các tàu chở dầu hiện có ở vịnh Ba Tư, gồm tàu chở dầu cỡ lớn VLCC hoặc Aframax, với ước tính khoảng 15,4 triệu thùng.
Kết hợp với công suất trên đất liền, nó có thể giúp Iran kéo dài thời gian lưu trữ lên khoảng 22 ngày, theo các nhà phân tích của Kpler. Tuy nhiên, dữ liệu vệ tinh chỉ ra rằng lượng dầu lưu trữ trên các tàu của Iran đã đạt mức kỷ lục, với tổng ước tính 185-195 triệu thùng.
Trong số này, khoảng 60 triệu thùng đang bị kẹt trên các tàu trong vùng phong tỏa ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman, trong khi hơn 120 triệu thùng đang ở trên các phương tiện gần những thị trường châu Á trọng điểm như Singapore và Trung Quốc.
Trước khi lệnh phong tỏa cảng biển của Mỹ có hiệu lực ngày 13/4, xuất khẩu dầu của Iran phần lớn không bị ảnh hưởng bởi xung đột. Nhờ kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng, tàu chở dầu thô của nước này vẫn có thể đi lại tự do. Kết quả là xuất khẩu dầu của Iran đạt trung bình khoảng 1,85 triệu thùng mỗi ngày trong tháng 3, vượt mức 1,7 triệu thùng của những tháng trước đó.
Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thực thi lệnh phong tỏa, lượng dầu xuất khẩu của Iran giảm xuống còn khoảng 567.000 thùng mỗi ngày. Trong giai đoạn ngày 14-23/4, chỉ có 5 chuyến hàng được vận chuyển, gồm 3 chuyến tại đảo Kharg và 2 chuyến tại Assaluyeh.
Kpler ước tính sản lượng dầu thô của Iran có thể giảm hơn một nửa so với mức hiện tại, xuống còn 1,2-1,3 triệu thùng mỗi ngày vào giữa tháng 5 nếu lệnh phong tỏa tiếp tục. Nhưng ngay cả khi đó, xuất khẩu cũng khó có thể đáp ứng khi chỉ đạt mức dưới mức 600.000 thùng mỗi ngày.

Các cảng ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman. Đồ họa: WSJ
Khi không thể xuất khẩu, dầu được bơm lên từ các mỏ đều cần phải có chỗ chứa, gồm trong bồn chứa, trên tàu, trong một điểm lưu trữ dã chiến. Sanam Vakil, giám đốc chương trình Trung Đông và Bắc Phi tại tổ chức Chatham House, cho hay Tehran đang hy vọng có thể tránh được rủi ro phải "khóa vòi dầu" và làm sụt giảm doanh thu nghiêm trọng.
"Việc đóng cửa sản xuất sẽ làm gia tăng áp lực, có thể buộc Iran phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán", Vakil nhận định.
Vòng đàm phán đầu tiên giữa Mỹ và Iran đã kết thúc vào đầu tháng này với rất ít tiến triển, triển vọng về vòng đàm phán thứ hai cũng tan vỡ vào tuần trước khi Iran từ chối gặp trực tiếp phái đoàn Mỹ. Tehran được cho là đã đưa ra đề nghị mới với các bên trung gian về việc ngừng tấn công tại eo biển Hormuz để đổi lấy việc chấm dứt hoàn toàn chiến tranh và dỡ bỏ lệnh phong tỏa của Mỹ đối với các cảng của Iran.
Tổng thống Trump ngày 27/4 đã thảo luận về đề xuất của Iran với đội ngũ an ninh quốc gia. Thư ký báo chí Nhà Trắng Leavitt cho biết các "lằn ranh đỏ" của ông Trump đối với Iran vẫn rất rõ ràng.
Iran đang tìm đến các giải pháp tình thế để đối phó với tình trạng dòng dầu xuất khẩu bị tắc nghẽn. Họ bắt đầu sử dụng các container và bể chứa bỏ hoang tại những trung tâm dầu mỏ phía nam như Ahvaz và Asaluyeh. Iran cũng được cho là đang sử dụng các tàu vốn đã ngừng hoạt động để lưu trữ dầu thừa. Tàu chở dầu Nasha đã được kích hoạt lại vào giữa tháng 4 và neo đậu gần đảo Kharg để chứa dầu thô.
Hamid Hosseini, phát ngôn viên liên minh các nhà xuất khẩu dầu mỏ Iran, cho biết nước này cũng đang chuyển dầu bằng tàu hỏa sang Trung Quốc, nhờ các tuyến đường sắt nối Tehran với các thành phố Nghĩa Ô và Tây An.
Hành trình bằng đường sắt nhìn chung ngắn hơn so với đi bằng đường biển, nhưng vẫn có thể mất đến vài tuần. Ngoài ra, vận tải bằng đường sắt không mang lại hiệu quả chi phí tốt như tàu chở dầu trên biển, đặc biệt là đối với các nhà máy lọc dầu độc lập quy mô nhỏ ở khu vực đông bắc Trung Quốc, những khách hàng chính tiêu thụ dầu thô của Iran.
Điều đó khiến nỗ lực chuyển hướng sang đường sắt không hẳn là một giải pháp, mà giống như một tín hiệu cho thấy hệ thống xuất khẩu của Iran đang gặp bế tắc. "Thời điểm tuyệt vọng đòi hỏi những biện pháp quyết liệt", Erica Downs, chuyên gia chính sách năng lượng Trung Quốc tại Đại học Columbia, nhận định.

Một tàu di chuyển qua eo biển Hormuz nhìn từ phía Oman ngày 8/4. Ảnh: AFP
Nhiều mỏ dầu của Iran, đặc biệt là các mỏ đã khai thác lâu năm ở những khu vực như Khuzestan, cần phải duy trì áp suất liên tục thì mới giữ được sản lượng.
Nếu Iran buộc phải đóng cửa các giếng dầu do thiếu kho chứa, sự thay đổi áp suất có thể dẫn đến hư hỏng bể chứa và giảm vĩnh viễn năng suất của các mỏ dầu, theo Anmol Singla, nhà phân tích của Firstpost.
"Trong những trường hợp cực đoan, điều này có thể dẫn đến việc mất đi hàng trăm nghìn thùng sản lượng mỗi ngày trong tương lai", Singla viết.
Tác động của việc giảm doanh thu dầu mỏ có khả năng lan rộng ra ngoài ngành năng lượng. Iran phải nhập khẩu nhiều hàng hóa thiết yếu, trong đó các nông sản như ngũ cốc, ngô và gạo. Chi phí nhập khẩu hàng ngày cho các sản phẩm này ước tính khoảng 200-250 triệu USD.
Khi doanh thu dầu mỏ sụt giảm, khả năng chi trả cho các mặt hàng nhập khẩu cũng thu hẹp, góp phần gây áp lực lạm phát và căng thẳng kinh tế trên diện rộng.
Việc không thể vận chuyển dầu tự do đã trở thành đòn bẩy quan trọng đối với cả hai bên xung đột. "Tuy nhiên, những rào cản lớn vẫn còn đó. Cả hai bên dường như đều không muốn nhượng bộ và triển vọng đàm phán vẫn còn bỏ ngỏ", Singla cho hay.
Thanh Tâm (Theo Firstpost, WSJ)


























