Bệnh nhân là một phụ nữ 33 tuổi. Khai thác bệnh sử, vào năm 2021, bệnh nhân đến Bệnh viện Từ Dũ khám để đánh giá tình trạng vô sinh thì được phát hiện polyp nội mạc tử cung. Sau khi trải qua phẫu thuật cắt polyp, kết quả xét nghiệm mô bệnh học cho thấy bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung.
Vì chưa từng sinh con, bệnh nhân sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ đã lựa chọn phương pháp điều trị bảo tồn khả năng sinh sản, bằng cách đặt vòng tránh thai giải phóng levonorgestrel và được theo dõi chặt chẽ thông qua sinh thiết nội mạc tử cung thường xuyên.

Nhân viên y tế Bệnh viện Từ Dũ can thiệp thụ tinh trong ống nghiệm cho bệnh nhân hiếm muộn (Ảnh minh họa: BV).
Sau khi có bằng chứng đáp ứng điều trị, bệnh nhân đã trải qua liệu pháp hỗ trợ sinh sản thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) với nhiều lần chuyển phôi. Sau một lần mang thai không thành công do dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, bệnh nhân đã tái phát tình trạng tăng sản nội mạc tử cung, nên tiếp tục điều trị bảo tồn bằng phương pháp trên.
Thời gian sau đó, bệnh nhân trải qua các lần chuyển phôi bổ sung sau khi xét nghiệm di truyền trước khi làm tổ và đạt được thai kỳ đủ tháng khỏe mạnh.
Cuối cùng, bằng nhiều cố gắng của bệnh nhân và các y bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ, sản phụ sinh một em bé đủ tháng sau 2 lần thai nghén bất thường, ở thời điểm đã qua 4 năm điều trị ung thư. Kiểm tra tại thời điểm sinh mổ cho thấy, nội mạc tử cung bệnh nhân tăng sản khu trú mà không có tế bào ác tính.

Một trường hợp mổ bắt con tại Bệnh viện Từ Dũ (Ảnh: BV).
Bệnh nhân tiếp tục điều trị bảo tồn tử cung, và kết quả kiểm tra mô học sau đặt vòng 6 tháng cho thấy lành tính. Hiện tại, người mẹ kỳ vọng tiếp tục được chuyển phôi để có thêm con.
Theo bác sĩ Diệp, ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không phổ biến, nhưng lại là thách thức đáng kể khi muốn bảo tồn khả năng sinh sản.
Trường hợp nêu trên cung cấp thêm bằng chứng về việc điều trị bằng liệu pháp progestin - đặc biệt là vòng tránh thai giải phóng levonorgestrel (LNG-IUD) - có thể là lựa chọn an toàn và hiệu quả cho những phụ nữ trẻ mắc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu muốn bảo tồn khả năng sinh sản.
"Việc theo dõi chặt chẽ kết hợp với các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phù hợp có thể giúp bệnh nhân đạt được kết quả thai kỳ thuận lợi, trong khi vẫn duy trì sự an toàn về mặt ung thư", bác sĩ Diệp nhận định.
Hội nghị năm nay quy tụ nhiều chuyên gia, giáo sư, bác sĩ đầu ngành trong nước và quốc tế đến từ Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Úc, Hàn Quốc, Argentina, Singapore... Chương trình khoa học được xây dựng quy mô với hơn 80 bài báo cáo chuyên đề, workshop thực hành và các phiên thảo luận chuyên sâu trải dài trên nhiều lĩnh vực mũi nhọn của sản phụ khoa.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của OGVFAP 2026 là chủ đề "Can thiệp bào thai và y học bào thai hiện đại". Các báo cáo nổi bật về can thiệp, chẩn đoán và xử trí những trường hợp song thai có biến chứng… đã cho thấy Việt Nam đang từng bước tiệm cận trình độ của các trung tâm can thiệp bào thai hàng đầu thế giới.

BSCKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ phát biểu tại buổi khai mạc hội nghị (Ảnh: BV).
Bên cạnh đó, hội nghị cũng tập trung mạnh vào các vấn đề sản khoa nguy cơ cao. Các nội dung như nhau cài răng lược, sinh non, tiền sản giật, xuất huyết sau sinh, theo dõi tim thai và hồi sức sơ sinh sẽ được trình bày dưới góc nhìn cập nhật quốc tế kết hợp kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam.


























