Phương án 2 là các khoản chi phí trực tiếp cho sản xuất, cung ứng điện chưa được bù đắp đầy đủ trong giá bán lẻ điện bình quân từ năm 2022 đến trước thời điểm nghị định này có hiệu lực, được xác định theo kết quả hoạt động kinh doanh (sau khi giảm trừ lợi nhuận hoạt động khác, nếu có) trong báo cáo tài chính riêng hằng năm của EVN đã được kiểm toán.
Theo Bộ Công thương, phương án 1 được bổ sung nhằm áp dụng ở phạm vi rộng, cho phép phân bổ các khoản chi phí trực tiếp phục vụ sản xuất, cung ứng điện chưa được tính toán, bù đắp đầy đủ trong giá bán lẻ điện bình quân năm 2022 và 2023, đồng thời tiếp tục áp dụng trong các năm sau nếu phát sinh tình huống tương tự.

Thực tế, nhiều chi phí sản xuất, cung ứng điện thời gian qua chưa được tính đủ vào giá bán lẻ điện, khiến EVN lỗ lớn trong giai đoạn 2022-2023
ẢNH: H.H
Quy định này bảo đảm tính chủ động trong xử lý khi các khó khăn như giai đoạn 2022-2023 tái diễn. Tuy nhiên, nhiều ý kiến lo ngại quy định này sẽ triệt tiêu động lực tiết kiệm chi phí của các đơn vị điện lực, bởi mọi khoản phát sinh đều có thể được bù đắp qua giá bán lẻ điện bình quân.
Còn phương án 2 chỉ xử lý các khoản chi phí trực tiếp cho sản xuất, cung ứng điện chưa được tính toán, bù đắp đầy đủ trong giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2022 đến trước khi nghị định có hiệu lực. Cách làm này không áp dụng cho những năm sau nếu tình huống tương tự tiếp tục phát sinh.
Theo đó, các đơn vị điện lực buộc phải rà soát và kiểm soát chặt chi phí để tránh tái diễn tình trạng thua lỗ trong tương lai.
Bộ Công thương nhấn mạnh, quy định bổ sung nêu trên đảm bảo bao quát cả kết quả sản xuất kinh doanh điện và các hoạt động liên quan, vốn là nguồn thu lớn hằng năm.
Đơn cử, năm 2022 và 2023, doanh thu hoạt động tài chính của EVN lần lượt là 12.070 tỉ đồng và 14.982 tỉ đồng, giúp bù đắp đáng kể chênh lệch doanh thu và giá thành sản xuất kinh doanh điện. Nếu không có khoản thu nhập này thì chênh lệch cần phải bù đắp còn cao hơn.


























