Thông tin được ông Upendra Patkie, Tổng giám đốc Johnson & Johnson Innovative Medicine Việt Nam, chia sẻ với VnExpress về vai trò của ngành y tế. Theo ông, y tế cần được nhìn nhận như một động lực kinh tế chiến lược, giúp nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng chống chịu cho xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Ông Upendra Patkie, Tổng giám đốc Johnson & Johnson Innovative Medicine Việt Nam. Ảnh: Đức Thịnh
- Ông đánh giá ngành y tế được định vị thế nào trong chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam cũng như toàn cầu?
- Tại Johnson & Johnson, chúng tôi tin rằng "Health changes everything" (sức khỏe có thể thay đổi mọi thứ). Chúng ta đều hiểu tầm quan trọng của sức khỏe và hệ thống y tế, nhưng tác động của chúng đến nền kinh tế vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, cứ mỗi 1 USD đầu tư vào y tế có thể tạo ra tới 4 USD giá trị kinh tế. Quốc gia nào có dân số khỏe mạnh sẽ có lực lượng lao động năng suất hơn, từ đó xây dựng xã hội bền bỉ và nền kinh tế vững mạnh.
Mối liên hệ này rất rõ ràng và đó cũng là lý do chúng tôi nói sức khỏe có thể thay đổi mọi thứ. Y tế cần được xem là khoản đầu tư chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển dài hạn của Việt Nam. Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, ban hành ngày 9/9/2025, là một trong những tín hiệu hướng đến mục tiêu này.
Chúng ta cũng cần nhìn nhận thực tế rằng trên toàn cầu, đầu tư y tế thường chiếm khoảng 10% GDP, trong khi tại Việt Nam hiện nay con số này vào khoảng 5%. Điều này có nghĩa là không chỉ cần tăng mức đầu tư mà còn phải đầu tư đúng trọng tâm. Chẳng hạn, tăng cường phòng ngừa, mở rộng tiếp cận các giải pháp y tế tiên tiến và xây dựng năng lực hệ thống để mỗi khoản đầu tư đều mang lại giá trị thực.
- Thế nào là đầu tư đúng cách để tạo ra giá trị kinh tế - xã hội dài hạn?
- Theo tôi, có ba cơ hội đầu tư lớn nên được ưu tiên. Thứ nhất là phòng bệnh - hình thức đầu tư hiệu quả nhất. Bệnh nào phòng được thì nên ngăn ngừa từ sớm.
Thứ hai, những bệnh không thể phòng tránh cần được điều trị thông minh hơn. Nghĩa là cần đưa các phương pháp điều trị mới vào ứng dụng, để người bệnh Việt Nam có cơ hội tiếp cận ngang bằng với các nước phát triển.
Thứ ba là củng cố hệ thống y tế thông qua đào tạo nhân lực y tế, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ chuyên môn, cũng như hỗ trợ đội ngũ này tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế. Johnson & Johnson đang hợp tác với nhiều đơn vị, tổ chức y tế tuyến đầu về bệnh ung thư, huyết học và da liễu để đào tạo nhân lực y tế. Mục tiêu là trong hai năm tới sẽ đào tạo khoảng 10.000 nhân viên y tế, góp phần xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe hiệu quả và bền vững hơn.
- Cụ thể, Johnson & Johnson hợp tác các tổ chức, bệnh viện trên ở những phương diện nào?
- Chúng tôi không chỉ là doanh nghiệp phân phối thuốc mà đã trở thành đối tác chiến lược trong hệ sinh thái y tế Việt Nam. Các biên bản ghi nhớ hợp tác với bệnh viện là nền tảng để cùng nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.
Đơn cử như với Bệnh viện Ung bướu TP HCM, chúng tôi đang hỗ trợ họ củng cố khả năng tiếp cận chẩn đoán và xét nghiệm chuyên sâu để nâng cao nhận thức cho bệnh nhân, giúp họ có cơ hội phát hiện bệnh sớm và chính xác hơn.
Với Bệnh viện K và các viện huyết học hàng đầu tại địa phương, chúng tôi tập trung cải thiện hệ thống chuyển tuyến tại 13 bệnh viện vệ tinh thuộc năm tỉnh, thành. Chẩn đoán không chỉ phụ thuộc vào thời gian xét nghiệm mà còn cần đảm bảo bệnh nhân ở tuyến tỉnh có thể kết nối với các trung tâm điều trị tuyến đầu.
Ở lĩnh vực da liễu, chúng tôi hợp tác với một số bệnh viện chuyên khoa tuyến đầu như Bệnh viện Da liễu Trung ương và Bệnh viện Da liễu TP HCM. Mục tiêu nhằm cải thiện chất lượng điều trị bệnh vảy nến thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức và giáo dục lâm sàng, đồng thời giúp giảm kỳ thị trong cộng đồng để bệnh nhân hiểu đúng về bệnh, tiếp cận điều trị sớm hơn.

Ông Upendra Patkie nhấn mạnh mục tiêu lâu dài của Johnson & Johnson Innovative Medicine Việt Nam vẫn là nâng cao nhận thức cộng đồng, giảm kỳ thị để bệnh nhân được chăm sóc trong điều kiện tối ưu hơn. Ảnh: Đức Thịnh
- Cần những thay đổi gì để việc chẩn đoán sớm hiệu quả hơn, nhất là với các bệnh ung thư?
- Theo số liệu từ Globocan 2022, Việt Nam ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới chỉ trong một năm, trong đó ba phần tư số ca được phát hiện ở giai đoạn muộn. Nhiều báo cáo khác cũng dự báo số ca mắc mới có thể vượt 31.000 ca mỗi năm vào năm 2030. Đồng thời, tỷ lệ sống sót sau 5 năm vẫn tương đối thấp, chỉ khoảng 14,8%, cho thấy nhu cầu cấp thiết về chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời.
Với đa u tủy xương - một dạng ung thư máu hiếm hơn, hơn 50% ca bệnh được phát hiện ở giai đoạn 3 và 4. Điều này cho thấy phát hiện sớm vẫn là một thách thức rất lớn với nền y tế trong nước.
Để cải thiện tình hình, theo tôi cần tập trung vào ba điểm, khởi đầu với việc nâng cao khả năng tiếp cận xét nghiệm chẩn đoán. Đơn cử, trong hợp tác với Bệnh viện Ung bướu TP HCM, chúng tôi cung cấp khóa đào tạo chăm sóc sức khỏe nâng cao, hỗ trợ tăng khả năng tiếp cận xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) - kỹ thuật giúp phát hiện đột biến ung thư phổi chính xác hơn.
Thứ hai là cải thiện quy trình chuyển tuyến, giúp bệnh nhân tuyến tỉnh có thể tiếp cận các trung tâm điều trị lớn nhanh chóng hơn.
Một điểm quan trọng khác là liên tục đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên y tế để họ có thể phát hiện bệnh sớm hơn. Chỉ riêng năm 2025, Johnson & Johnson đã tổ chức hơn 600 chương trình đào tạo và trao đổi chuyên môn, tiếp cận hơn 3.600 nhân viên y tế. Đây là vấn đề cần được giải quyết ở cấp độ hệ thống thay vì chỉ xử lý theo từng tình huống riêng lẻ.
- Vì sao ông nói những vấn đề này cần giải quyết ở cấp độ hệ thống?
- Nếu không giải quyết sớm, tình trạng chẩn đoán muộn sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí điều trị, đồng thời kéo dài sang các hệ lụy kinh tế và xã hội. Ví dụ với đa u tủy xương, nghiên cứu toàn cầu cho thấy hơn 48% bệnh nhân không thể quay lại làm việc bình thường, và hơn 30% phải nghỉ hưu sớm. Điều này cho thấy hậu quả không chỉ nằm ở hóa đơn bệnh viện và bản thân bệnh nhân, mà còn gây tổn thất về năng suất lao động, thu nhập của họ và cả người thân trong gia đình.
Ngoài ra, chẩn đoán muộn còn tạo gánh nặng cho người chăm sóc. Một số nghiên cứu cho thấy người thân của bệnh nhân nặng thường dành hơn 30 giờ mỗi tuần chỉ để chăm sóc người nhà - tổn thất rất lớn về thời gian và nguồn lực xã hội. Ngược lại, nếu người bệnh được chẩn đoán và điều trị sớm, số ngày nghỉ bệnh có thể giảm tới 47%. Đó là lý do chúng ta cần thay đổi cách nhìn từ tập trung giảm "chi phí y tế" sang cải thiện "giá trị của sức khỏe" ở cấp hệ thống.
- Thế nào là "cải thiện giá trị của sức khỏe"?
- Ngày nay, chăm sóc sức khỏe không chỉ là chữa khỏi bệnh mà còn là nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân, từ hỗ trợ người thân chăm sóc, giáo dục sức khỏe đến chăm sóc sức khỏe tinh thần... Đây mới là cách tiếp cận lấy bệnh nhân làm trung tâm.
Ví dụ với bệnh vảy nến - căn bệnh chịu nhiều kỳ thị xã hội do nhiều người hiểu sai bản chất. Thông qua hợp tác với các bệnh viện da liễu, chúng tôi đã tổ chức các hoạt động truyền thông và trải nghiệm thực tế, giúp bệnh nhân và người thân hiểu thêm về các triệu chứng, rằng đây không phải bệnh truyền nhiễm và hoàn toàn có thể kiểm soát.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tích hợp chăm sóc sức khỏe tinh thần vào tuyến đầu chăm sóc cộng đồng qua một số hoạt động cộng đồng. Đến nay, hơn 400 nhân viên y tế trên cả nước được đào tạo và hơn 14.000 người dân được tiếp cận hỗ trợ. Điều này giúp chúng tôi đi xa hơn trong điều trị để có cái nhìn toàn diện hơn về hành trình sống của bệnh nhân.

Tổng giám đốc Johnson & Johnson Innovative Medicine Việt Nam nhấn mạnh rằng cam kết lâu dài của công ty là góp phần củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe và cải thiện cơ sở hạ tầng y tế trên cả nước Việt Nam. Ảnh: Đức Thịnh
- Ông đánh giá thế nào về vai trò của hợp tác công - tư trong cải thiện hệ thống y tế quốc gia?
- Việc nâng cao đầu tư cho y tế không thể do một bên đơn lẻ thực hiện mà cần sự phối hợp của nhiều bên trong toàn hệ sinh thái để tạo sức lan tỏa lớn hơn. Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm, có thể mang đến công nghệ, thuốc tiên tiến, mô hình chăm sóc mới cùng các giải pháp bền vững. Các mô hình hợp tác công - tư nếu được thúc đẩy đúng cách sẽ có thể tạo ra giá trị rất lớn về lâu dài.
Hiện Johnson & Johnson đã ký kết hợp tác với khoảng 6 tổ chức y tế hàng đầu tại Việt Nam, trải rộng trên nhiều lĩnh vực bệnh lý khác nhau. Mục tiêu là đưa thuốc mới vào thị trường Việt Nam, đồng thời trở thành đối tác chiến lược của các bệnh viện để cùng cải thiện chẩn đoán, phát hiện và điều trị sớm, đào tạo nhân lực và nâng cao nhận thức bệnh.
Sau hơn 30 năm có mặt tại Việt Nam, vai trò của chúng tôi đã thay đổi đáng kể. Từ chỗ tập trung đưa các thuốc đổi mới sáng tạo vào thị trường, chúng tôi từng bước trở thành đối tác chiến lược sâu hơn trong hệ sinh thái y tế nước sở tại. Điều chúng tôi đang làm hôm nay hướng đến tinh thần của Nghị quyết 72, đó là nhìn nhận lĩnh vực y tế như một khoản đầu tư tạo ra giá trị dài hạn, cả về kinh tế lẫn xã hội.

Ông Upendra Patkie (thứ hai từ phải sang) cùng nhân viên công ty. Ảnh: Johnson & Johnson Innovative Medicines Vietnam
Trong tương lai, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng các lĩnh vực hoạt động đầu tư hiện hữu thông qua các hợp tác sâu rộng, để đưa thêm nhiều công nghệ đổi mới sáng tạo vào Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực hệ thống y tế.
Tôi luôn tin rằng sức khỏe là một trong những động lực kinh tế đang bị đánh giá thấp hơn so với tiềm năng. Bằng cách thúc đẩy tiếp cận đổi mới, chúng ta có thể giúp bệnh nhân sống tốt hơn, hỗ trợ chuyên môn cho nguồn nhân lực y tế và góp phần xây dựng hệ thống y tế Việt Nam phát triển bền vững.
Thy An


























