Theo GS Quảng, điểm mới của hội thảo năm nay là tiếp cận ung thư vú theo từng giai đoạn bệnh, qua đó tạo diễn đàn trao đổi toàn diện giữa các chuyên ngành như phẫu thuật, xạ trị, điều trị nội khoa, giải phẫu bệnh, sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh.

GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho biết tỷ lệ phát hiện sớm ung thư vú có sự chuyển biến ấn tượng (Ảnh: Thái Hà).
Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng hội chẩn đa chuyên khoa, nhằm tối ưu hiệu quả điều trị cho người bệnh. Hội thảo cũng thu hút hàng trăm nhà khoa học, bác sĩ trong nước cùng nhiều chuyên gia quốc tế đến từ Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Úc, Singapore…
Theo GLOBOCAN, năm 2022 ung thư vú có số lượng mắc mới là gần 2,3 triệu người, chiếm 23,8% trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ. Tại Việt Nam, năm 2022 số mắc mới ung thư vú là 24.563 người, là bệnh có tỷ lệ mắc nhiều nhất trong số các ung thư ở phụ nữ và có xu hướng ngày càng trẻ hóa.
"Tín hiệu đáng mừng là trước đây, có tới 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm", GS Quảng thông tin.
Theo chuyên gia này, trong điều trị ung thư, vai trò của phối hợp đa mô thức – bao gồm phẫu thuật, xạ trị, điều trị toàn thân, chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, sinh học phân tử và chăm sóc giảm nhẹ, tư vấn tâm lý... ngày càng trở nên quan trọng.
Trong đó, cách tiếp cận đa chuyên khoa phù hợp với xu hướng y học chính xác hiện nay, đồng thời giúp cập nhật những tiến bộ mới như ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y học và chuẩn hóa chất lượng điều trị theo tiêu chuẩn quốc tế.
TS.BS Lê Hồng Quang, Trưởng Khoa Ngoại vú, Bệnh viện K cho biết, những năm gần đây, bên cạnh việc chẩn đoán sớm được, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể.

Theo TS Quang, hiệu quả điều trị ung thư vú của Việt Nam đạt ngang các nước tiên tiến, với gần 90% bệnh nhân sống trên 5 năm (Ảnh: Thái Hà).
"Hiện nay, khoảng 85–90% bệnh nhân ung thư vú có thể sống trên 5 năm, tiệm cận với các nước phát triển", TS Quang nói.
Trong điều trị ung thư vú, Việt Nam đã triển khai đầy đủ các phương pháp tiên tiến như phẫu thuật, hóa trị, liệu pháp đích, miễn dịch và xạ trị hiện đại.
"Nhờ sự phát triển đồng bộ của các hệ thống, từ chẩn đoán đến điều trị và quản lý sau điều trị, chúng ta đã nâng cao rõ rệt tỷ lệ sống và chất lượng điều trị cho bệnh nhân ung thư vú", TS Quang cho biết.
Tại hội thảo lần này, ngoài cập nhật những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú; các bác sĩ có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm thực hành lâm sàng; đồng thời thảo luận các mô hình phối hợp đa chuyên khoa trong kỷ nguyên y học chính xác, phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.
Chuyên gia quốc tế và Việt Nam sẽ cùng lập kế hoạch xạ trị, mô phỏng và thực hiện các kỹ thuật xạ trị chuyên sâu IMRT/VMAT, ..trên các máy xạ gia tốc hiện tại nhất tại Bệnh viện K; trao đổi với 150 bệnh nhân ung thư vú đã và đang điều trị liên quan đến các vấn đề về tâm lý, các tác dụng phụ gặp phải khi điều trị ung thư

























