Trao đổi với phóng viên Dân trí tại Hội nghị khoa học kỹ thuật lần thứ 48 của khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TPHCM (diễn ra các ngày 5-7/4), PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Phó trưởng khoa Răng Hàm Mặt, Trưởng Bộ môn Nha chu cho biết, hơn 90% người Việt có bệnh răng miệng.
Trong đó, vấn đề nha chu phổ biến ở mọi lứa tuổi, với khoảng 60% người trưởng thành bị mất răng do tình trạng này. Tuy nhiên, nhiều người chỉ đi khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, răng đã lung lay, đau nhức, có áp xe. Điều này khiến việc điều trị khó khăn, tốn kém và không hiệu quả.
PGS Thủy chia sẻ, bệnh nha chu tiến triển âm thầm, giai đoạn đầu thường không đau nên người bệnh dễ bỏ qua. Ngoài ra, nhiều người chưa nhận thức được mối liên hệ giữa bệnh nha chu và các bệnh toàn thân, nên chưa chú trọng chăm sóc răng miệng định kỳ.

PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Phó trưởng khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược TPHCM (Ảnh: Hoàng Lê).
Chuyên gia phân tích, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra bệnh nha chu có liên quan đến các tình trạng bệnh toàn thân nguy hiểm như tim mạch, tiểu đường và Alzheimer (sa sút trí tuệ), xuất phát từ ba cơ chế.
Thứ nhất là tình trạng nhiễm trùng huyết. Vi khuẩn từ vùng viêm nha chu có thể đi vào máu và ảnh hưởng đến các cơ quan khác. Các nghiên cứu đã ghi nhận vi khuẩn nha chu có trong mảng xơ vữa động mạch của những bệnh nhân đột tử do tim mạch.
Thứ hai là cơ chế trung gian, khi các chất trung gian gây viêm từ vùng nha chu có thể ảnh hưởng đến toàn cơ thể. Thứ ba là phản ứng của hệ thống miễn dịch. Hiện tại, các cơ chế này vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu.
Giới chuyên môn nhận định, áp lực công việc trong xã hội hiện đại khiến nhiều người trẻ bị stress. Ngoài ra, thói quen hút thuốc, chế độ ăn uống không hợp lý (đặc biệt là thức ăn nhanh, ít chất xơ, nhiều đường và tinh bột), cũng góp phần làm tăng phản ứng viêm trong cơ thể, ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng.
Hiện nay, xu hướng điều trị nha chu trên thế giới tập trung vào phòng bệnh hơn chữa bệnh. PGS Thủy nhận định, nếu phòng ngừa, chăm sóc răng miệng tốt cho trẻ từ nhỏ sẽ hạn chế việc mất răng trong tương lai, và đồng thời giảm nguy cơ mắc các bệnh toàn thân liên quan.

Người dân đến kiểm tra sức khỏe răng miệng tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, TPHCM (Ảnh: Hoàng Lê).
Riêng bệnh nha chu được chia thành hai nhóm, gồm viêm nướu và viêm nha chu. Đối với viêm nướu, người dân thường chỉ cần làm sạch răng, điều trị viêm và duy trì vệ sinh răng miệng tốt.
Còn đối với viêm nha chu, việc điều trị sẽ phức tạp hơn, khi cần phân loại mức độ bệnh để có phác đồ điều trị phù hợp. Hiện nay, ngoài các phương pháp truyền thống, ngành nha khoa đã áp dụng nhiều công nghệ mới như laser, thiết bị làm sạch hiện đại, các phương pháp hỗ trợ giúp kiểm soát vi khuẩn và viêm nha chu hiệu quả.
Chuyên gia khuyến cáo, người dân nên khám răng định kỳ 6 tháng một lần và chú ý vệ sinh răng miệng đúng cách. Việc chăm sóc sức khỏe răng miệng tốt sẽ góp phần cải thiện sức khỏe toàn thân.
PGS.TS Ngô Quốc Đạt, Hiệu trưởng Đại học Y Dược TPHCM chia sẻ, chủ đề "Nha khoa cá nhân hóa" tại Hội nghị khoa học kỹ thuật lần thứ 48 của khoa Răng Hàm Mặt phản ánh rõ xu thế phát triển của nha khoa hiện đại, khi toàn ngành đang chuyển dần từ cách tiếp cận điều trị đại trà sang cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm, hướng tới những giải pháp phù hợp nhất với đặc điểm sinh học, tình trạng bệnh lý, nhu cầu chức năng và yêu cầu thẩm mỹ của từng cá thể.
Đây cũng là thông điệp khái quát nhất cho sự chuyển dịch từ tư duy chữa bệnh theo mẫu số chung, sang tư duy điều trị theo mỗi con người.

PGS.TS Ngô Quốc Đạt, Hiệu trưởng Đại học Y Dược TPHCM phát biểu tại hội nghị (Ảnh: BTC).
GS.TS Phạm Văn Khoa, Trưởng khoa Răng Hàm Mặt, Trưởng Ban tổ chức Hội nghị nhận định, không có hai bệnh nhân nào hoàn toàn giống nhau. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hình ảnh học kỹ thuật số và in 3D đang mở ra khả năng cá thể hóa chẩn đoán, tối ưu hóa kế hoạch điều trị và nâng cao hiệu quả phục hồi cho từng bệnh nhân một cách chính xác nhất.
Từ đó, lợi ích mà người bệnh nhận được rất rõ. Trước hết là việc chẩn đoán chính xác, giảm nguy cơ điều trị sai hướng hoặc phải chỉnh sửa nhiều lần. Kế đến là hiệu quả phục hồi răng miệng tốt hơn, điều trị ít xâm lấn hơn, tiết kiệm thời gian hơn và phù hợp hơn với khả năng thích nghi sau điều trị của người bệnh.
"Nha khoa cá nhân hóa không chỉ là một xu hướng, mà đang trở thành chuẩn mực mới của thực hành nha khoa - nơi khoa học, công nghệ và tính nhân văn hội tụ - nhằm mang lại lợi ích tối đa cho người bệnh", GS.TS Phạm Văn Khoa nói.


























