Những nội dung này được trao đổi tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Liên Bang Nga 2026: phát huy nội lực trong bối cảnh mới, được chủ trì bởi Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) chiều 8/4.

Toàn cảnh diễn đàn kinh tế Việt Nam - Liên Bang Nga 2026 (Ảnh: NH).
Lao động Việt chủ yếu ở khâu giá trị thấp
Trình bày tại diễn đàn, Phó giáo sư Oleg Bodiagin cho rằng mô hình phát triển dựa vào tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đang bộc lộ những giới hạn mới.
“Khả năng tồn tại và phát triển hiện nay phụ thuộc vào việc tạo ra giá trị trong nước và khả năng chống chịu chiến lược”, ông nói.
Theo phân tích của ông Bodiagin, Việt Nam hiện thuộc nhóm nền kinh tế “tích hợp ngược”, tức phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu để gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu. Điều này giúp tăng kim ngạch thương mại, nhưng giá trị giữ lại trong nước còn hạn chế.

Phó giáo sư Oleg Bodiagin trình bày tại diễn đàn (Ảnh: NH).
Thực tế, các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, dệt may, giày dép vẫn chủ yếu thực hiện công đoạn sản xuất trung gian. Lao động tập trung đông ở các vị trí gia công, trong khi các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, nghiên cứu - phát triển hay xây dựng thương hiệu còn hạn chế.
Tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào vốn, năng suất chưa bứt phá
Ở góc nhìn khác, TS Nguyễn Quỳnh Trang (Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội) cho rằng nền tảng tăng trưởng hiện nay cũng là một nguyên nhân khiến việc làm khó nâng cấp.
Theo bà, các yếu tố phía cung như vốn, lao động và chất lượng lao động vẫn đóng vai trò chính trong tăng trưởng kinh tế. “Tăng trưởng trong nhiều giai đoạn phụ thuộc lớn vào tích lũy vốn, trong khi đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) còn thấp”, bà Trang phân tích.
Dữ liệu cho thấy tỷ lệ đầu tư trên GDP duy trì ở mức cao, khoảng 30–34%, phản ánh nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào vốn. Tuy nhiên, hệ số ICOR cao và biến động cho thấy hiệu quả đầu tư còn hạn chế.
Ở khía cạnh lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ khoảng 14% năm 2010 lên hơn 28% năm 2024. Dù vậy, theo TS Trang, “đóng góp của chất lượng lao động vào tăng trưởng vẫn còn khiêm tốn và thấp hơn so với các nước trong khu vực”.
Một điểm đáng chú ý khác là chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp, chỉ khoảng 0,4–0,5% GDP. “Mức chi này thấp hơn đáng kể so với mục tiêu và các nước trong khu vực, cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế”, bà nói.
Những yếu tố này khiến nền kinh tế khó chuyển sang các ngành có giá trị gia tăng cao, kéo theo việc làm vẫn chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp.

TS Nguyễn Quỳnh Trang (Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội) (Ảnh: NH).
Bài toán nâng cấp kỹ năng và vị trí việc làm
Trong bối cảnh mới, khi trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và xu hướng tăng trưởng xanh đang định hình lại sản xuất toàn cầu, yêu cầu đối với lực lượng lao động cũng thay đổi mạnh mẽ.
TS Nguyễn Quỳnh Trang cho rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về năng lực sản xuất và chất lượng lao động.
“Lực lượng lao động còn hạn chế về trình độ, kỹ năng số và kỹ năng công nghệ”, bà nhận định, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải nâng cao kỹ năng để đáp ứng yêu cầu mới.
Bà đề xuất cần “tăng cường đào tạo nghề, kỹ năng số và các kỹ năng liên quan đến công nghệ cao”, đồng thời cải thiện chất lượng nguồn nhân lực để hỗ trợ quá trình chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Ở góc độ chuỗi giá trị toàn cầu, ông Oleg Bodiagin cũng nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển từ mô hình gia công sang nâng cao giá trị nội địa. “Các nền kinh tế như Việt Nam phải chuyển từ thu hút FDI thụ động sang phát triển năng lực trong nước, nâng cấp chức năng như thiết kế, R&D và xây dựng thương hiệu”, ông nói.
Trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, câu chuyện không còn là tham gia hay không, mà là tham gia ở vị trí nào. Nếu không nâng cấp năng suất, kỹ năng và năng lực công nghệ, người lao động Việt Nam có thể tiếp tục bị “mắc kẹt” trong các công việc giá trị thấp, với dư địa cải thiện thu nhập và chất lượng việc làm ngày càng thu hẹp.


























